93 Đại Đệ Tử Đức Phật

Mahākappina ←→ Anuruddhā

Mahācunda

Trong kinh đề cập đến hai trưởng lão cùng tên là Cunda, Mahā-Cunda và Cūla-Cunda. Truyền thuyết liên quan đến hai vị rất lẫn lộn nên không thể phân biệt rõ ràng chuyện nào liên hệ vị nào.
Ngoài ra, kinh cũng có đề cập đến một vị tên Cunda-Samanuddesa, người mà các Chú giải cho là Mahā-Cunda. Chẳng hạn, theo bài luận Theragāthā thì Mahā-Cunda là em trai của Sāriputta, gia nhập Tăng đoàn, đắc quả A-la-hán sau những nỗ lực gian khổ và vất vả.
Vào thời Đức Phật Vipassī, ông là một thợ gốm và đã tặng cho Đức Phật một cái bát bằng đất sét. Các bài kệ Apadāna được trích dẫn trong luận Theragāthā, trong chính Apadāna (Ap.ii.444), được gán cho một nhà sư tên là Ekapattadāyaka. Họ không đề cập gì đến mối quan hệ của anh ta với Sāriputta. Mặt khác, có thể tìm thấy ở những nơi khác trong Apadāna (Ap.i.101f) một số câu được gán cho một Cunda Thera, trong đó khẳng định chắc chắn rằng ông là con trai của Bà-la-môn Vanganta, và mẹ của ông là Sārī. Nhưng trong những câu kệ này, ông được gọi là Cūla-Cunda, và có đề cập đến tiền kiếp của ông vào thời Đức Phật Siddhattha, người mà ông đã tặng một bó hoa lài. Kết quả là ông trở thành vua của chư thiên bảy mươi bảy lần và một lần là vua của loài người, tên là Dujjaya. Người ta còn nói thêm rằng ông đã trở thành một vị A-la-hán khi vẫn còn là một sāmanera và ông đã phụng sự Đức Phật, anh trai của mình và các nhà sư đức hạnh khác. Bản tường thuật này tiếp tục kể rằng sau khi anh trai mình qua đời, Cunda đã đặt xá lợi của anh trong một cái bát và dâng lên Đức Phật, người đã thốt lên những lời ca ngợi Sāriputta. Điều này sẽ xác định Cūla-Cunda là Cunda-Samanuddesa, người, theo Tương Ưng (S.v.161f), đã chăm sóc Sāriputta trong cơn bệnh cuối cùng của ông và sau khi ông qua đời, đã mang đến cho Đức Phật tại Jetavana chiếc bát và y của Sāriputta và gói xá lợi của ông trong túi lọc nước. Do đó, nếu Buddhaghosa xác định đúng rằng Cunda Samanuddesa là Mahā-Cunda, thì cả ba là một và giống nhau. (Buddhaghosa nói rằng các tu sĩ gọi ông là Samanuddesa khi còn trẻ trước khi ông upasampadā, và ông không bao giờ mất tên, DA.iii.907).
Cunda Samanuddesa, trong một thời gian, là thị giả riêng của Đức Phật (ThagA.ii.124; J.iv.95, v.v.), và khi Đức Phật chuẩn bị thực hiện phép lạ song sinh, đã đề nghị tự mình thực hiện phép lạ và như vậy cứu Phật khổ nhọc (DhA.iii.211). Thầy của Cunda là Ananda, và chính Ananda là người đầu tiên báo tin về cái chết của Sāriputta. (SA.iii.178; xem thêm Pāsādika Sutta và Sāmagāma Sutta, nơi Cunda mang đến cho Ananda và sau đó là Đức Phật tin tức về cái chết của Nigantha Nātaputta; xem thêm Sallekha Sutta).
Mahā-Cunda hiển nhiên là một đệ tử xuất chúng, và được Đức Phật nhắc đến (A.iii.299; xem thêm M.iii.78; Ud.i.5) cùng với hai vị Đại Đệ Tử, Mahā Kassapa, Mahā Kotthita, Mahā Kaccāna và những Trưởng lão lỗi lạc khác.
Tam Tạng có một số bài giảng (A.iii.355; v.41, 157) do Mahā-Cunda thuyết cho các nhà sư khi cư trú tại Sahajātī giữa các Cetis, có lẽ là sau khi Đức Phật nhập diệt. Cunda (hay Cundaka theo cách gọi của ông trong bối cảnh này) đã ở cùng với Đức Phật trong cuộc hành trình cuối cùng của Ngài đến Kusinārā, và trải giường cho Ngài trong vườn Xoài bên sông Kakutthā (D.ii.134f; Ud.viii.5) .
Cunda được đề cập (S.iv.50f.; M.iii.263f) là người đã đi cùng Sāriputta khi ông đến gặp Channa tại Kalandakanivāpa ở Rājagaha, ngay trước khi Channa tự sát. Một lần, khi Đức Phật lâm bệnh ở Kalandakanivāpa, Cunda đến thăm Ngài và họ nói về các bojjhanga. Tại đó và sau đó bệnh của Đức Phật biến mất. SV81.


93 Đại Đệ Tử Đức Phật

©www.vdpzoom.com