17. Mahāpāpatigotamī-apadānaṃ
17. Ký sự về Mahāpajāpatigotamī 226. Ekadā lokapajjoto vesāliyaṃ mahāvane, kūṭāgāre susālāyaṃ vasate narasārathi. Một thời, bậc Quang Đăng của thế gian, đấng Điều Phục loài người ngự tại thành Vesālī, khu Đại Lâm, ngôi nhà mái nhọn, trong giảng đường xinh xắn. 227. Tadā jinassa mātucchā mahāgotami bhikkhunī, tahiṃ kate pure ramme vasī bhikkhunupassaye. Khi ấy, người dì ruột của đấng Chiến Thắng là tỳ khưu ni Mahāgotamī đã cư ngụ tại tu viện của tỳ khưu ni được xây dựng ở tại nơi ấy, trong thành phố đáng yêu. 228. Bhikkhunīhi vimuttāhi satehi saha pañcahi, rahogatāya tassevaṃ cittassāsi vitakkitaṃ. Khi đang ở nơi thanh vắng cùng với năm trăm vị tỳ khưu ni đã được hoàn toàn giải thoát, có điều suy tầm đã khởi đến tâm của vị ni ấy như vầy: 229. “Buddhassa parinibbāṇaṃ sāvakaggayugassa vā, rāhulānandanandānaṃ nāhaṃ lacchāmi passituṃ. “Ta sẽ không thể chứng kiến sự viên tịch Niết Bàn của đức Phật, hoặc của hai vị Tối Thượng Thinh Văn, của Rāhula, Ānanda, vā Nanda. 230. Paṭigaccāyusaṅkhāre ossajitvāna nibbutiṃ, gaccheyyaṃ lokanāthena anuññātā mahesinā.” Trước khi có thể buông bỏ thọ hành rồi thành tựu Niết Bàn, ta cần được đấng Hộ Trì Thế Gian, bậc Đại Ẩn Sĩ cho phép.” 231. Tathā pañcasatānampi bhikkhunīnaṃ vitakkitaṃ, āsi khemādikānampi etadeva vitakkitaṃ. Sự suy tầm của năm trăm vị tỳ khưu ni cũng như thế. Chính điều suy tầm này cũng đã khởi đến các vị như là Khemā, v.v... 232. Bhūmicālo tadā āsi nāditā devadundubhi, upassayādhivatthāyo devatā sokapīḷitā. vipalantā sakaruṇaṃ tathassūni pavattayuṃ. Khi ấy, đã có sự lay động của trái đất, tiếng trống của cõi trời đã vang lên. Các thiên nhân cư ngụ ở ni viện đã bị dày vò bởi sầu muộn. Tại nơi ấy, trong khi than vãn với niềm bi mẫn họ đã tuôn rơi những giọt nước mắt. 233. Mittā bhikkhuniyo tāhi upagantvāna gotamiṃ, nipacca sirasā pāde idaṃ vacanamabravuṃ: Cùng với các vị (thiên nhân) ấy, các vị tỳ khưu ni bạn đã đi đến gặp bà Gotamī. Họ đã cúi mình đê đầu ở bàn chân và đã nói lời nói này: 234. “Tattha toyalavāsittā mayamayye rahogatā, sācalā calitā bhūmi nāditā devadundubhi, paridevā ca sūyanti kimatthaṃ nūna gotamī.” “Thưa ni sư, ở tại nơi ấy chúng tôi đã tưới ướt với những giọt nước rồi đã đi đến nơi thanh vắng. Trái đất có sự không lay động đã lay động, tiếng trống của cõi trời đã vang lên, và được nghe những tiếng than khóc. Bà Gotamī, chẳng lẽ là có sự việc gì hay sao?” 235. Tadā avoca sā sabbaṃ yathāparivitakkitaṃ, tāyopi sabbā āhaṃsu yathāparivitakkitaṃ. Khi ấy, bà Gotamī đã kể lại mọi việc theo như đã được suy tầm. Các vị ni ấy cũng đã kể lại mọi việc theo như đã được suy tầm: 236. “Yadi te rucitaṃ ayye nibbāṇaṃ paramaṃ sivaṃ, nibbāyissāma sabbāpi buddhānuññāya subbate. “Thưa ni sư, thưa vị có sự hành trì tốt đẹp, nếu Niết Bàn tối thắng thù diệu được ni sư thích thú, thì tất cả chúng tôi cũng sẽ Niết Bàn với sự chấp thuận của đức Phật. 237. Mayaṃ sahāva nikkhantā gharāpi ca bhavāpi ca, sahayeva gamissāma nibbāṇapuramuttamaṃ.” Chúng tôi sẽ cùng nhau rời khỏi ngôi nhà và rời khỏi luôn cả sự hiện hữu, chúng tôi sẽ cùng nhau đi đến thành phố Niết Bàn tối thượng.” 238. Nibbānāya vajantīnaṃ kiṃ vakkhāmī’ti sā vadaṃ, saha sabbāhi niggacchi bhikkhunīnilayā tadā. Bà Gotamī đã nói rằng: “Ta sẽ nói gì đây đến những người đang đi đến Niết Bàn?” Khi ấy, cùng với tất cả các vị ni ấy bà Gotamī đã rời khỏi chỗ cư ngụ của các tỳ khưu ni. 239. Upassaye yādhivatthā devatā tā khamantu me, bhikkhunīnilayassedaṃ pacchimaṃ dassanaṃ mama. “Xin chư thiên đang ngự tại trú xá hãy thông cảm cho ta. Đây là sự nhìn thấy ni viện lần cuối cùng của ta. 240. Na jarā maccu vā yattha appiyehi samāgamo, piyehi vippayogo ’tthi taṃ vajissaṃ asaṅkhataṃ. Nơi nào sự già hoặc sự chết, sự gần gũi với những gì không yêu thích, sự xa lìa với những gì yêu thích là không có, thì ta nên đi đến nơi không bị tạo tác ấy.” 241. Avītarāgā taṃ sutvā vacanaṃ sugatorasā, sokaṭṭā parideviṃsu “Aho no appapuññatā. Nghe được lời nói ấy, những vị tỳ khưu ni của đấng Thiện Thệ chưa lìa tham ái bị dằn vặt bởi sầu muộn đã than vãn rằng: “Than ôi, chúng tôi có phước báu kém cỏi. 242. Bhikkhunīnilayo suñño bhūto tāhi vinā ayaṃ, pabhāte viya tārāyo na dissanti jinorasā. Trú xứ này của các tỳ khưu ni thiếu vắng các vị ấy trở nên trống không. Các vị tỳ khưu ni của đấng Chiến Thắng không còn được nhìn thấy ví như các vì sao không còn được nhìn thấy vào ban ngày.” 243. Nibbānaṃ gotamī yāti satehi saha pañcahi, nadīsatehiva saha gaṅgā pañcahi sāgaraṃ.” Bà Gotamī đi đến Niết bàn cùng với năm trăm vị tương tợ như sông Gaṅgā cùng với năm trăm dòng sông chảy về biển cả.” 244. Rathikāya vajantiṃ taṃ disvā saddhā upāsikā, gharā nikkhamma pādesu nipacca idamabraviṃ: Sau khi nhìn thấy bà Gotamī đang đi ở trên đường, các nữ cư sĩ thành tín đã rời khỏi nhà rồi đã cúi xuống ở hai bàn chân (của bà) và đã nói điều này: 245. “Pasīdassu mahābhoge anāthāyo vihāya no, tayā na yuttaṃ nibbātuṃ” iccaṭṭaṃ vilapiṃsu tā. “Hỡi vị có tài sản vĩ đại, xin người hoan hỷ. Xin chớ lìa bỏ chúng con (trở thành) không người lãnh đạo. Xin người chớ quyết định Niết Bàn,” họ đã than van ầm ĩ như thế. 246. Tāsaṃ sokapahāṇatthaṃ avoca madhuraṃ giraṃ, “Ruditena alaṃ puttā hāsakālo ’yamajja vo. Nhằm mục đích xóa đi nỗi sầu muộn của họ, bà Gotamī đã nói với giọng nói ngọt ngào rằng: “Này các con, than khóc đã đủ rồi, hôm nay đây là thời điểm vui cười của các con. 247. Pariññātaṃ mayā dukkhaṃ dukkhahetu vivajjito, nirodho me sacchikato maggo cāpi subhāvito. Khổ đã được ta biết toàn diện, nhân của Khổ đã được ta dứt bỏ, sự Diệt Tận đã được ta tác chứng, và Đạo cũng đã được ta thực hành khéo léo. (Bhāṇavāraṃ paṭhamaṃ). Tụng Phẩm thứ nhất. 248. Pariciṇṇo mayā satthā kataṃ buddhassa sāsanaṃ, ohito garuko bhāro bhavanetti samūhatā. Bậc Đạo Sư đã được ta phục vụ, lời dạy của đức Phật đã được ta thực hành, nhiệm vụ nặng nề đã được đặt xuống, lối dẫn đi tái sanh đã được xóa tan. 249. Yassatthāya pabbajitā agārasmānagāriyaṃ, so me attho anuppatto sabbasaññojanakkhayo. Vì mục đích nào ta đã rời khỏi gia đình xuất gia vào cuộc sống không gia đình, mục đích ấy tức là sự đoạn tận tất cả các sự trói buộc đã được ta đạt đến. 250. Buddho tassa ca saddhammo anūno yāva tiṭṭhati, nibbātuṃ tāva kālo me mā maṃ socatha puttikā. Này các con, đức Phật và Chánh Pháp không bị thiếu sót của Ngài vẫn còn tồn tại vào thời điểm Niết Bàn của ta, chớ có khóc than cho ta. 251. Koṇḍaññānandanandādī tiṭṭhanti rāhulo jino, sukhito sahito saṅgho hatadappā ca titthiyā. Koṇḍañña, Ānanda, Nanda, v.v..., vị Rāhula chiến thắng còn tại tiền, hội chúng là được an lạc, hòa hợp, còn đối với các ngoại đạo thì niềm kiêu hãnh đã bị tiêu tan. 252. Okkākavaṃsassa yaso usasito māramaddano, nanu sampati kālo me nibbānatthāya puttikā. Danh tiếng của dòng tộc Okkāka với sự tiêu diệt Ma Vương đã được giương cao. Này các con, chẳng phải chính lúc này là thời điểm cho mục đích Niết Bàn của ta hay sao? 253. Cirappabhūti yaṃ mayhaṃ patthitaṃ ajja sijjhate, ānandabherikālo ’yaṃ kiṃ vo assūhi puttikā. Điều ước nguyện của ta được nung đúc từ lâu hôm nay được thành tựu. Này các con, giờ đây là thời điểm của những tiếng trống vui mừng, việc gì với những giọt nước mắt của các con? 254. Sace mayi dayā atthi yadi catthi kataññutā, saddhammaṭṭhitiyā sabbā karotha viriyaṃ daḷhaṃ. Nếu có lòng thương mến đối với ta, và nếu có lòng bi mẫn, tất cả các con hãy thể hiện sự tinh tấn kiên cố cho sự tồn tại của Chánh Pháp. 255. Thīnaṃ adāsi pabbajjaṃ sambuddho yācito mayā, tasmā yathāhaṃ nandissaṃ tathā tamanutiṭṭhatha. Khi được ta thỉnh cầu, đấng Toàn Giác đã ban cho sự xuất gia một cách lưỡng lự. Do điều đó, ta đã hoan hỷ như thế nào thì các con hãy thuận theo điều ấy như thế.” 256. Tā evamanusāsitvā bhikkhunīhi purakkhatā, upecca buddhaṃ vanditvā idaṃ vacanamabravi: Sau khi dặn dò như thế, bà Gotamī dẫn đầu các vị tỳ khưu ni đã đi đến đảnh lễ đức Phật rồi đã nói lời nói này: 257. “Ahaṃ sugata mātā te tvaṃ ca vīra pitā mama, saddhammasukhado nātha tayā jātamhi gotama. “Bạch đấng Thiện Thệ, con là mẹ của Ngài. Và bạch đấng Anh Hùng, Ngài là cha của con. Bạch đấng Lãnh Đạo, Ngài là người ban cho niềm an lạc trong Chánh Pháp. Bạch ngài Gotama, con đã được sanh ra bởi Ngài. 258. Saṃvaḍḍhīto ’yaṃ sugata rūpakāyo mayā tava, anindiyo dhammakāyo mama saṃvaḍḍhīto tayā. Bạch đấng Thiện Thệ, hình hài và thân xác này của Ngài đã được lớn mạnh là nhờ con. Còn Pháp thân không thể phê phán của con đã được tăng trưởng là nhờ vào Ngài. 259. Muhuttataṇhāsamanaṃ khīraṃ tvaṃ pāyito mayā, tayāhaṃ santamaccantaṃ dhammakhīraṃ hi pāyitā. Nhờ con, Ngài đã được uống nước sữa làm dịu đi sự khao khát trong chốc lát. Nhờ Ngài, con cũng đã được uống chính dòng sữa Giáo Pháp thanh tịnh vô cùng tận. 260. Vaddhanarakkhane mayhaṃ anaṇo tvaṃ mahāmune, puttakāmā thiyo yā tā labhantu tādisaṃ sutaṃ. Bạch đấng Đại Hiền Triết, trong việc dưỡng nuôi chăm sóc của con Ngài không có nợ nần. Mong sao cho các phụ nữ có lòng mong mỏi con trai có thể đạt được người con trai như thế này. 261. Mandhātādinarindānaṃ yā mātā sā bhavaṇṇave, nimuggāhaṃ tayā putta tāritā bhavasāgarā. Mẹ của các vị vua như đức vua Mandhātu, v.v... là ở trong biển cả của hiện hữu. Này con trai, ta đã bị chìm đắm, nhờ Ngài ta đã vượt qua khỏi đại dương của hiện hữu. 262. Rañño mātā mahesīti sulabhaṃ nāmamitthinaṃ, buddhamātāti yaṃ nāmaṃ etaṃ paramadullabhaṃ. Đối với hàng phụ nữ, danh xưng “Hoàng hậu mẹ của đức vua” là dễ dàng đạt được. Còn danh xưng “Người mẹ của đức Phật” là đạt được vô cùng khó khăn. 263. Tañca laddhaṃ mayā vīra paṇidhānaṃ mamaṃ tayā, aṇukaṃ vā mahantaṃ vā taṃ sabbaṃ pūritaṃ mayā. Và bạch đấng Anh Hùng, nhờ Ngài con đã đạt được điều ước nguyện ấy của con. Với con toàn bộ điều ấy dầu nhỏ bé hay lớn lao đều đã được tròn đủ. 264. Parinibbātumicchāmi vihāyemaṃ kalebaraṃ, anujānāhi me vīra dukkhantakara nāyaka. Sau khi từ bỏ xác thân này con muốn viên tịch Niết Bàn. Bạch đấng Anh Hùng, vị Lãnh Đạo, bậc Đoạn Tận Khổ Đau, xin Ngài hãy cho phép con. 265. Cakkaṅkusadhajākiṇṇe pāde kamalakomale, pasārehi paṇāmaṃ te karissaṃ puttapemasā. Xin Ngài hãy duỗi ra (hai) bàn chân mềm dịu như hoa sen được điểm tô bằng những cây căm bánh xe và các ngọn cờ, con sẽ thể hiện sự tôn kính đến Ngài với lòng yêu mến đối với người con trai. 266. Suvaṇṇarāsisaṃkāsaṃ sarīraṃ kuru pākaṭaṃ, katvā dehaṃ sudiṭṭhaṃ te santiṃ gacchāmi nāyaka.” Bạch đấng Lãnh Đạo, xin Ngài hãy thể hiện rõ ràng thân thể tợ như khối vàng, sau khi thực hiện việc chiêm ngưỡng thân thể của Ngài, con sẽ đi về chốn an tịnh.” 267. Dvattiṃsalakkhaṇūpetaṃ suppabhālaṅkataṃ tanuṃ, sañjhāghanāva bālakkaṃ mātucchaṃ dassayī jino. Đấng Chiến Thắng đã khiến cho người dì nhìn thấy thân thể được thành tựu ba mươi hai tướng trạng và được điểm tô với những hào quang xinh xắn trông giống như ánh mặt trời non trẻ từ đám mây chiều. 268. Phullāravindasaṅkāse taruṇādiccasappabhe, cakkaṅkite pādatale tato sā sirasā pati. Sau đó, bà Gotamī đã đê đầu ở lòng bàn chân được in dấu hình bánh xe tợ như đóa hoa sen nở rộ, (và) chói sáng như mặt trời buổi bình minh. 269. “Paṇamāmi narādiccaṃ ādiccakulaketukaṃ, pacchime maraṇe mayhaṃ na taṃ ikkhāmahaṃ puno. “Con xin đảnh lễ đấng mặt trời của nhân loại, vị tiêu biểu của dòng dõi mặt trời. Đây là lần tử biệt cuối cùng của con, con không gặp Ngài nữa rồi. 270. Itthiyo nāma lokagga sabbadosakarā matā, yadi ko catthi doso me khamassu karuṇākara. Bạch đấng Tối Cao của thế gian, hàng nữ nhân tạo nên mọi điều xấu xa rồi chết đi. Và bạch đấng Thực Hành bi mẫn, nếu con có điều sai trái gì xin Ngài tha thứ. 271. Itthikānañca pabbajjaṃ yamahaṃ yāciṃ punappunaṃ, tattha ce atthi doso me taṃ khamassu narāsabha.” Và bạch đấng Nhân Ngưu, con đã liên tục cầu xin sự xuất gia cho hàng phụ nữ, trong việc này nếu con có điều sai trái, xin Ngài hãy thứ tha điều ấy. 272. Mayā bhikkhuniyo vīra tavānuññāya sāsitā, tatra ce atthi dunnītaṃ taṃ khamassu khamādhipa. Bạch đấng Đại Hùng, các tỳ khưu ni đã được con dạy dỗ với sự cho phép của Ngài. Bạch đấng Chúa Tể về kham nhẫn, trong trường hợp này nếu có vấn đề huấn luyện kém cỏi, xin Ngài hãy thứ tha điều ấy.” 273. “Akkhante nāma khantabbaṃ kiṃ bhave guṇabhūsane, kimuttaraṃ te vakkhāmi nibbānāya vajantiyā. “Này người có đức hạnh là vật trang điểm, có thể kham nhẫn những điều gọi là không thể kham nhẫn thì còn có việc gì? Ta sẽ nói điều gì hơn nữa về bà là người đang tiến đến Niết Bàn? 274. Suddhe anūne mama bhikkhusaṅghe lokā ito nissarituṃ kamante, pabhātakāle vyasanaṃ gahānaṃ disvāna niyyāti va candalekhā. Khi hội chúng tỳ khưu của Ta là thanh tịnh không khiếm khuyết đang tiến bước để ra khỏi thế gian này, ví như vầng trăng ra đi vào lúc rạng đông sau khi đã nhìn thấy sự biến mất dần của các vì thiên thể.” 275. Tadetarā bhikkhuniyo jinaggaṃ tārāva candānugatā sumeruṃ, padakkhiṇaṃ katva nipacca pāde ṭhitā mukhantaṃ samudikkhamānā. Khi ấy, các vị tỳ khưu ni kia đã hướng vai phải nhiễu quanh đấng Chiến Thắng tối cao, trông giống như các vì sao theo gót mặt trăng di chuyển xung quanh núi Sumeru, sau đó đã quỳ xuống đê đầu ở bàn chân (đức Phật) rồi đứng lên chiêm ngưỡng khuôn mặt (của Ngài). 276. “Na tittapubbaṃ tava dassanena cakkhuṃ na sotaṃ tava bhāsitena, cittaṃ mamaṃ kevalamekameva pappuyya taṃ dhammarasena tittiṃ. “Mắt chưa có sự thỏa mãn đối với việc nhìn ngắm Ngài, tai chưa có sự thoả mãn đối với việc được (nghe) Ngài thuyết giảng, chỉ riêng một mình tâm của con đã đạt được sự thoả mãn ấy nhờ vào hương vị của Giáo Pháp. 277. Nadato parisāyaṃ te vādidappāpahārino, ye te dakkhanti vadanaṃ dhaññā te narapuṅgava. Bạch đấng Cao Quý của loài người, Ngài là vị đánh đổ sự kiêu căng của những người đối chất, khi Ngài đang tuyên thuyết ở hội chúng những người nào nhìn thấy khuôn mặt của Ngài, những người ấy là hữu duyên. 278. Dīghaṅgulī tambanakhe subhe āyatapaṇhike, ye pāde paṇamissanti tepi dhaññā guṇandhara. Bạch đấng có lóng (tay chân) dài, những người nào sẽ khom mình ở bàn chân xinh đẹp có gót chân nhô ra, bạch bậc Thượng Đức, những người ấy cũng là hữu duyên. 279. Madhurāni pahaṭṭhāni dosagghāni hitāni ca, ye te vākyāni sossanti tepi dhaññā naruttama. Bạch đấng Thượng Nhân, những người nào sẽ lắng nghe những lời nói ngọt ngào, vui vẻ, tiêu diệt lỗi lầm, và có lợi ích của Ngài, những người ấy cũng là hữu duyên. 280. Dhaññāhaṃ te mahāvīra pādapūjanatapparā, tiṇṇasaṃsārakantārā suvākyena sirīmato.” Bạch đấng Đại Hùng, với sự nhiệt tâm trong việc lễ bái bàn chân (Ngài), con đã vượt qua khu rừng rậm luân hồi nhờ vào lời thiện thuyết của đấng Quang Vinh, con là hữu duyên với Ngài.” 281. Tato sā anusāsetvā bhikkhusaṅghampi subbatā, rāhulānandanande ca vanditvā idamabravi: Sau đó, vị ni có hạnh kiểm tốt đẹp ấy cũng đã thông báo đến hội chúng tỳ khưu. Và sau khi đảnh lễ các vị Rāhula, Ānanda, Nanda, bà đã nói điều này: 282. “Āsīvisālayasame rogāvāse kalebare, nibbinnā dukkhasaṃghāte jarāmaraṇagocare. “Ta nhờm gớm cái xác thân tợ như chỗ trú của rắn độc, là chỗ ngụ của bệnh tật, bị chồng chất khổ đau, là chốn lai vãng của sự già và sự chết, ... 283. Nānākalimalākiṇṇe parāyatte nirīhake, tena nibbātumicchāmi anumaññatha puttakā.” ... đầy rẫy nhiễm ô và tội lỗi, lệ thuộc vào người khác, không năng động. Vì thế Mẹ muốn Niết Bàn. Này các con trai, hãy thông cảm (cho Mẹ).” 284. Nando rāhulabhaddo ca vītasokā nirāsavā, ṭhītācalaṭṭhītithīrā dhammataṃ anucintayuṃ. Vị Nanda và bậc hiền thiện Rāhula, có sầu muộn đã lìa, không còn lậu hoặc, bền vững, không bị lay động, chắc chắn, kiên quyết, đã suy xét về lẽ tự nhiên rằng: 285. Dhīratthu saṅkhataṃ lolaṃ asāraṃ kadalūpamaṃ, māyāmarīcisadisaṃ ittaraṃ anavaṭṭhitaṃ. “Thật là xấu hổ cho (xác thân) bị tạo tác, chao đảo, không có lõi tương tợ như cây chuối, giống như trò xảo thuật hay ảo ảnh, ngắn ngủi, không bền vững. 286. Yattha nāma jinassāyaṃ mātucchā buddhaposikā, gotamī nidhanaṃ yāti aniccaṃ sabbasaṅkhataṃ.” Ngay cả bà Gotamī này, đối với đấng Chiến Thắng là người dì, là người nuôi dưỡng Đức Phật, rồi cũng đi đến sự tử vong; tất cả pháp hữu vi là vô thường.” 287. Ānando ca tadā sekho sokaṭṭo jinavacchalo, tatthassūni dharanto so karuṇaṃ paridevati. Và lúc bấy giờ, ngài Ānanda, vị có lòng thương mến đối với đấng Chiến Thắng, là bậc hữu học, đã bị dằn vặt vì sầu muộn. Tại đó, trong khi tuôn trào những giọt lệ, vị ấy rên rĩ nỗi tiếc thương: 288. “Hā santiṃ gotamī yāti nūna buddhopi nibbutiṃ, gacchati na cireneva aggiriva nirindhano.” “Hỡi ôi! Bà Gotamī đi đến chốn thanh tịnh. Hiển nhiên, chẳng bao lâu nữa đức Phật cũng đi đến tịch diệt ví như ngọn lửa hết nguồn nhiên liệu.” 289. Evaṃ vilapamānaṃ taṃ Ānandaṃ āha gotamī: “Sutisāgaragambhīra buddhupaṭṭhānatappara. Bà Gotamī đã nói với vị Ānanda đang than vãn ấy như vầy: “Này vị sâu sắc như biển cả về việc nghe (học hỏi). Này vị nhiệt tâm trong việc hầu cận đức Phật ... 290. Na yuttaṃ socituṃ putta hāsakāle upaṭṭhite, tava me saraṇaṃ putta nibbānaṃ samupāgataṃ. Này con trai, chớ miệt mài thương tiếc khi thời điểm cười vui đã đến đối với con. Này con trai, nơi nương nhờ của ta là Niết Bàn đã đến. 291. Tayā tāta samajjhiṭṭho pabbajjaṃ anujāni no, mā putta vimano hohi saphalo te parissamo. Này con yêu, được cầu khẩn bởi con (đức Phật) đã cho phép sự xuất gia đến chúng tôi. Này con trai, chớ có phiền muộn, sự nỗ lực của con là có kết quả. 292. Yaṃ na diṭṭhaṃ purāṇehi titthikācariyehi pi, taṃ padaṃ sukumārīhi sattavassāhi veditaṃ. Đạo lộ ấy thậm chí không được nhìn thấy bởi các vị ngoại đạo sư trước đây lại được biết đến bởi những bé gái hiền thiện bảy tuổi. 293. Buddhasāsanapāletā pacchimaṃ dassanaṃ tava, tattha gacchāmahaṃ putta gato yattha na dissate.” Này vị hộ trì Giáo Pháp của đức Phật, (giờ là) lần nhìn thấy cuối cùng của con. Này con trai, nơi nào đi đến mà không được nhìn thấy thì ta đi đến nơi ấy.” 294. Kadāci dhammaṃ desento khipi lokagganāyako, tadāhaṃ āsiṃsavacaṃ avocaṃ anukampikā: Có lần nọ đấng Lãnh Đạo tối cao của thế gian bị hắt hơi trong khi đang thuyết giảng Giáo Pháp, khi ấy với lòng từ mẫn tôi đã nói lời mong mỏi rằng: 295. “Ciraṃ jīva mahāvīra kappaṃ tiṭṭha mahāmune, sabbalokassa atthāya bhavassu ajarāmaro.” “Bạch đấng Đại Hùng, xin Ngài hãy sống thọ. Bạch bậc Đại Hiền Triết, xin Ngài hãy tồn tại trọn kiếp. Vì lợi ích của tất cả thế gian, xin Ngài hãy là vị thiên thần bất lão.” 296. Taṃ tathāvādiniṃ buddho mamaṃ so etadabravi: “Na hevaṃ vandiyā buddhā yathā vandasi gotamī.” Đối với tôi là người nữ có lời nói như thế về điều ấy, đức Phật ấy đã nói điều này: “Này Gotamī, chư Phật không nên được tôn vinh như thế, giống như cách bà đã tôn vinh.” 297. “Kathaṃ carahi sabbaññu vanditabbā tathāgatā, kathaṃ avandiyā buddhā taṃ me akkhāhi pucchito.” “Bạch đấng Toàn Tri, vậy thì các đấng Như Lai là nên được tôn vinh như thế nào? Chư Phật là không nên được tôn vinh như thế nào? Được hỏi, xin Ngài hãy giảng cho con về điều ấy.” 298. “Āraddhaviriye pahitatte niccaṃ daḷhaparakkame, samagge sāvake passe esā buddhānavandanā.” “Bà hãy nhìn xem các vị đệ tử là có sự ra sức tinh tấn, có tính khẳng quyết, có sự nỗ lực mạnh mẽ một cách bền bĩ, có sự hòa hợp; ấy là sự tôn vinh chư Phật.” 299. Tato upassayaṃ gantvā ekikāhaṃ vicintayiṃ, samaggaṃ parisaṃ nātho roceti tibhavantago. Từ nơi ấy, sau khi đi về ni viện, chỉ có một mình tôi đã suy nghiệm rằng: “Đấng Bảo Hộ, vị đi đến tận cùng Tam Giới hài lòng về tập thể có sự hòa hợp. 300. Handāhaṃ parinibbissaṃ mā vipattiṃ tamaddasaṃ,” evāhaṃ cintayitvāna disvāna isisattamaṃ. Vậy thì ta sẽ Niết Bàn, ta chớ chứng kiến sự băng hoại ấy.” Sau khi suy nghĩ như thế, tôi đã diện kiến bậc Đệ Nhất Ẩn Sĩ. 301. Parinibbānakālaṃ me ārocesiṃ vināyakaṃ, tato so samanuññāsi “Kālaṃ jānāhi gotamī.” Tôi đã thông báo thời điểm viên tịch Niết Bàn của tôi đến bậc Hướng Đạo. Sau đó, vị ấy đã đồng ý rằng: “Này Gotamī, bà hãy biết lấy thời điểm.” 302. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā, nāgīva bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavā. “Các phiền não của con đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), con sống không còn lậu hoặc. 303. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike, tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ. Quả vậy, con đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng. 304. Paṭisambhidā catasso vimokkhāpi ca aṭṭhime, chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ. Con đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; con đã thực hành lời dạy của đức Phật.” 305. Thīnaṃ dhammābhisamaye ye bālā vimatiṃ gatā, tesaṃ diṭṭhipahānatthaṃ iddhiṃ dassehi gotamī. “Này Gotamī, những kẻ ngu đi đến sự không chú tâm và sự trì trệ trong việc lãnh hội Giáo Pháp, bà hãy thị hiện thần thông vì lợi ích cho sự từ bỏ tà kiến của những kẻ ấy.” 306. Tadā nipacca sambuddaṃ uppatitvāna ambaraṃ, iddhī anekā dassesi buddhānuññāya gotamī. Khi ấy, với sự cho phép của đức Phật, bà Gotamī đã cúi mình (kính lễ) đấng Toàn Giác rồi đã bay lên không trung và đã thị hiện nhiều loại thần thông. 307. Ekikā bahudhā āsi bahukā cekikā tathā, āvibhāvaṃ tirobhāvaṃ tirokuḍḍaṃ tironagaṃ. 308. Asajjamānā agamā bhūmiyampi nimujjatha, abhijjamāne udake agañchi mahiyā yathā. Là một, bà đã trở thành nhiều, và tương tợ như thế là nhiều trở thành một. Bà đã hiện ra, biến mất, đi xuyên qua vách tường, xuyên qua ngọn núi không bị chướng ngại. Bà cũng đã chìm vào trong trái đất. Bà đã đi ở trên nước mà không làm chao động như là ở trên đất liền. 309. Sakuṇīva yathākāse pallaṅkena gamī tadā, vasaṃ vattesi kāyena yāva brahmanivesanaṃ. Khi ấy, bà đã di chuyển với thế kiết già tương tợ như là loài chim ở trên không trung. Bằng thân bà đã thể hiện sự tác động đến tận chỗ ngụ của đấng Phạm Thiên. 310. Sineruṃ daṇḍaṃ katvāna chattaṃ katvā mahāmahiṃ, samūlaṃ parivattetvā dhārentī caṅkamī nabhe. Sau khi đã làm ngọn núi Sineru thành cây cán lọng và đã làm đại địa cầu thành cái lọng che, bà đã xoay ngược lại đến tận gốc rễ. Trong khi che lọng bà đã đi kinh hành ở hư không. 311. Chassūrodayakāleva lokañcākāsi dhūmikaṃ, yugante viya lokaṃ sā jālāmālākulaṃ akā. Và bà đã làm thế gian mù mịt khói đúng vào lúc mọc lên của sáu mặt trời. Bà đã gây rối ren bằng những tràng hoa rực lửa như là thế gian vào lúc hoại kiếp. 312. Mucalindaṃ mahāselaṃ meru mandāra daddare, sāsaperiva sabbāni ekenaggahi muṭṭhinā. Về tảng đá khổng lồ Mucalinda, núi Meru, núi Mandāra, và núi Daddara, bà đã nắm lấy toàn bộ bằng một nắm tay như là (nắm lấy) những hạt cải. 313. Aṅgulaggena chādesi bhākaraṃ sanisākaraṃ, candasūrasahassāni āvelamiva dhārayi. Với đầu ngón tay bà đã che khuất mặt trời cùng với mặt trăng. Bà đã nắm giữ một ngàn mặt trăng và mặt trời như là (nắm giữ) tràng hoa đội đầu. 314. Catusāgaratoyāni dhārayī ekapāṇinā, yugantajaladākāraṃ mahāvassaṃ pavassayī. Bà đã nắm giữ nước của bốn bể bằng một bàn tay, đã làm đổ mưa trận mưa lớn có hình dáng của đám mây đen vào lúc tận thế. 315. Cakkavattiṃ saparisaṃ māpayī sā nabhatthale. garuḷaṃ dviradaṃ sīhaṃ vinadantaṃ ca dassayī. Bà đã biến hóa thành vị Chuyển Luân Vương cùng với tùy tùng ở bề mặt của không trung. Bà đã khiến cho nhìn thấy loài kim-sỉ-điểu, loài voi, và loài sư tử đang gầm rống. 316. Ekikā abhinimmitvāppameyyaṃ bhikkhunīgaṇaṃ, puna antaradhāpetvā ekikā munimabravī: Chỉ một mình, bà đã biến hóa thành hội chúng tỳ khưu ni vô số kể sau đó lại làm cho biến mất chỉ còn một mình, rồi đã nói với bậc Hiền Triết rằng: 317. “Mātucchā te mahāvīra tavasāsanakārikā, anuppattā sakaṃ atthaṃ pāde vandati cakkhuma.” “Bạch đấng Đại Hùng, bạch bậc Hữu Nhãn, người dì cùa Ngài, là người nữ thực hành theo lời dạy của Ngài, đã đạt được lợi ích cho bản thân, (xin) đảnh lễ ở bàn chân (Ngài).” 318. Dassetvā vividhā iddhī orohitvā nabhatthalā, vanditvā lokapajjotaṃ ekamantaṃ nisīdi sā. Sau khi thị hiện nhiều thể loại thần thông, vị ni ấy đã từ bề mặt của không trung đáp xuống đảnh lễ đấng Quang Đăng của thế gian rồi đã ngồi xuống ở một bên. 319. “Sā vīsaṃvassasatikājātiyāhaṃ mahāmune, alamettāvatā vīra nibbāyissāmi nāyaka.” “Bạch đấng Đại Hiền Triết, con đây đã được một trăm hai mươi tuổi tính từ lúc sanh. Bạch đấng Anh Hùng, chừng ấy là vừa đủ. Bạch đấng Lãnh Đạo, con sẽ Niết Bàn.” 320. Tadā ’tivimhitā sabbā parisā sā katañjalī, avoc’ ayye kathaṃ āsi atuliddhiparakkamā. Khi ấy, toàn thể hội chúng ấy vô cùng sửng sốt đã chắp tay lên nói rằng: “Thưa ni sư, làm thế nào bà đã trở thành vị có thần thông và sự nỗ lực không thể sánh bằng?” 321. Padumuttaro nāma jino sabbadhammesu cakkhumā, ito satasahassamhi kappe uppajji nāyako. Trước đây một trăm ngàn kiếp, vị Lãnh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc Hữu Nhãn về tất cả các pháp đã hiện khởi. 322. Tadāhaṃ haṃsavatiyaṃ jātāmaccakule ahuṃ, sabbūpakārasampanne iddhe phīte mahaddhane. Khi ấy, tôi đã được sanh ra ở tại Haṃsavatī, trong gia đình vị quan cận thần có đủ mọi thứ tiện nghi, sung túc, thịnh vượng, có đại tài sản. 323. Kadāci pitunā saddhiṃ dāsigaṇapurakkhatā, mahatā parivārena taṃ upecca narāsabhaṃ. Có lần nọ, tôi đã dẫn đầu nhóm nữ tỳ cùng người cha với đoàn tùy tùng đông đảo đi đến đấng Nhân Ngưu ấy. 324. Vāsavaṃ viya vassentaṃ dhammameghaṃ anāsavaṃ, saradādiccasadisaṃ raṃsimālākulaṃ jinaṃ. Tợ như vị (Thiên Vương) Vāsava đang làm mưa, đấng Chiến Thắng, bậc không còn lậu hoặc, rực rỡ với quầng hào quang giống như mặt trời của mùa thu, đang làm đổ xuống cơn mưa Pháp. 325. Disvā cittaṃ pasādetvā sutvā cassa subhāsitaṃ, mātucchaṃ bhikkhuniṃ agge ṭhapentaṃ naranāyakaṃ. Sau khi nhìn thấy, tôi đã khởi tâm tịnh tín và đã lắng nghe (Pháp) khéo được thuyết giảng của vị đấng Lãnh Đạo nhân loại ấy khi Ngài đang thiết lập vị tỳ khưu ni Mātucchā vào vị thế hàng đầu. 326. Sutvā datvā mahādānaṃ sattāhaṃ tassa tādino, sasaṅghassa naraggassa paccayāni bahūni ca. Sau khi lắng nghe và sau khi đã cúng dường đại thí và nhiều vật dụng trong bảy ngày đến bậc Tối Thượng Nhân như thế ấy cùng với hội chúng (của Ngài), ... 327. Nipajja pādamūlamhi taṃ ṭhānaṃ abhipatthayiṃ, tato mahāparisatiṃ avoca isisattamo: ... Tôi đã nằm dài xuống ở bàn chân (Ngài) và đã phát nguyện vị thế ấy. Sau đó, vị Đệ Nhất Ẩn Sĩ đã nói với đoàn tùy tùng đông đảo rằng: 328. “Yā sasaṅghaṃ abhojesi sattāhaṃ lokanāyakaṃ, tamahaṃ kittayissāmi suṇātha mama bhāsato. “Người nữ nào đã cúng dường vật thực đến vị Lãnh Đạo Thế Gian cùng với hội chúng trong bảy ngày, Ta sẽ tán dương người nữ ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói. 329. Satasahasse ito kappe okkākakulasambhavo, gotamo nāma gottena satthā loke bhavissati. Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian. 330. Tassa dhammesu dāyādā orasā dhammanimmitā, gotamī nāma nāmena hessati satthusāvikā. (Người nữ này) sẽ trở thành nữ thinh văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên là Gotamī. 331. Tassa buddhassa mātucchā jīvitāpādikā ayaṃ, rattaññūnañca aggattaṃ bhikkhunīnaṃ labhissati.” Người nữ này sẽ là người dì nuôi dưỡng mạng sống của vị Phật ấy và sẽ đạt được vị thế hạng nhất trong số các tỳ khưu ni kỳ cựu.” 332. Taṃ sutvāna pamuditā yāvajīvaṃ tadā jinaṃ, paccayehi upaṭṭhitvā tato kālakatā ahaṃ. Sau khi nghe điều ấy, được hoan hỷ, khi ấy tôi đã hộ độ đấng Chiến Thắng bằng các vật dụng cho đến hết cuộc đời, sau đó đã từ trần. 333. Tāvatiṃsesu devesu sabbakāmasamiddhisu, nibbattā dasahaṅgehi aññe abhibhaviṃ ahaṃ. Được sanh lên giữa chư Thiên thuộc cõi Đạo Lợi có các sự dồi dào về mọi dục lạc, tôi đã vượt trội các vị (trời) khác về mười phương diện: 334. Rūpasaddehi gandhehi rasehi phusanehi ca, āyunāpi ca vaṇṇena sukhena yasasāpi ca. Là các sắc, các thinh, các hương, các vị, và các xúc, luôn cả tuổi thọ và sắc đẹp, sự an lạc và luôn cả danh tiếng nữa. 335. Tathevādhipateyyena adhigayha viroc’ ahaṃ, ahosiṃ amarindassa mahesī dayitā tahiṃ. Với ưu thế như thế ấy, tôi đã nổi bật và sáng chói. Tôi đã là hoàng hậu yêu dấu của vị Trời Đế Thích ở tại nơi ấy. 336. Saṃsāre saṃsarantīhaṃ kammavāyusameritā, kāsissa rañño visaye ajāyiṃ dāsagāmake. Trong khi trôi nổi luân hồi, bị dời chuyển dưới tác động của nghiệp, tôi đã được sanh ra ở trong ngôi làng dân nô lệ thuộc lãnh địa của đức vua Kāsi. 337. Pañcadāsasatānūnā nivasanti tahiṃ tadā, sabbesaṃ tattha yo jeṭṭho tassa jāyā ahos’ ahaṃ. Khi ấy, có không dưới năm trăm người nô lệ cư ngụ ở tại nơi ấy. Ở nơi ấy, người nào là đứng đầu của tất cả (nhóm người nô lệ), tôi đã trở thành vợ của người ấy. 338. Sayambhuno pañcasatā gāmaṃ piṇḍāya pāvisuṃ, te disvāna ahaṃ tuṭṭhā saha sabbehi ñātihi. Năm trăm bậc Tự Chủ đã đi vào làng để khất thực. Sau khi nhìn thấy những vị ấy, tôi đã vui mừng cùng với tất cả thân quyến. 339. Katvā pañcasatakuṭī catumāse upaṭṭhiya, ticīvarāni datvāna pasannāmha sasāmikā. Sau khi đã xây dựng năm trăm cốc liêu, đã hộ độ trong bốn tháng, đã cúng dường ba y, chúng tôi cùng với những người chồng đã hoan hỷ. 340. Tato cutā sapatikā tāvatiṃsagatā mayaṃ, pacchime ca bhave ’dāni jātā devadahe pure. Từ nơi ấy chết đi, chúng tôi cùng với những người chồng đã đi đến cõi trời Đạo Lợi. Và trong kiếp sống cuối cùng hiện nay, chúng tôi đã được sanh về thành phố Devadaha. 341. Pitā añjanasakko me mātā mama sulakkhaṇā, tato kapilavatthusmiṃ suddhodanagharaṃ gatā. Cha của tôi là Añjana thuộc dòng Sakya, mẹ của tôi là (hoàng hậu) Sulakkhaṇā. Sau đó, tôi đã đi đến nhà (làm vợ) của (đức vua) Suddhodana ở thành Kapilavatthu. 342. Sesā sakyakule jātā sakyānaṃ gharamāgamuṃ, ahaṃ visiṭṭhā sabbāsaṃ jinassāpādikā ahuṃ. Những người còn lại đã được sanh vào gia tộc Sakya, đã đi đến nhà (làm vợ) của các vị dòng Sakya. Là ưu việt trong số tất cả, tôi đã là người bảo mẫu của đấng Chiến Thắng. 343. Mama putto ’bhinikkhamma buddho āsi vināyako, pacchāhaṃ pabbajitvāna satehi saha pañcahi. Người con trai của tôi sau khi lìa bỏ ra đi đã trở thành đức Phật, bậc Hướng Đạo. Về sau, tôi đã xuất gia cùng với năm trăm vị (công nương). 344. Sākiyānihi dhīrāhi saha santisukhaṃ phusiṃ, ye tadā pubbajātiyaṃ amhākaṃ ahu sāmino. Cùng với các công nương dòng Sakya, tôi đã chạm đến sự an lạc của Niết Bàn. Khi ấy, những người nào đã là chồng của chúng tôi trong cuộc sống trước đây, … 345. Saha puññassa kattāro mahāsamayakārakā, phusiṃsu arahattaṃ te sugatenānukampitā. … những người cùng thực hiện phước báu, những người đã tạo ra thời điểm trọng đại, được đấng Thiện Thệ thương tưởng những người ấy đã chạm đến quả vị A-la-hán. 346. Tadetarā bhikkhuniyo āruhiṃsu nabhatthalaṃ, saṅgatā viya tārāyo virociṃsu mahiddhikā. Khi ấy, các vị tỳ khưu ni kia đã ngự lên bề mặt của không trung. Có đại thần lực, các vị ni đã chói sáng như là các vì sao đã được quần tụ lại. 347. Iddhī anekā dassesuṃ piḷandhavikatī yathā, kammāro kanakasseva kammaññassa susikkhito. Các vị ni đã thị hiện nhiều loại thần thong, tương tợ như những thợ vàng khéo được huấn luyện đã làm ra nhiều mẫu mã trang sức đối với kim loại vàng đã được chế biến. 348. Dassetvā pāṭihīrāni vicittāni bahūni ca, tosetvā vādipavaraṃ muniṃ saparisaṃ tadā. Khi ấy, các vị ni đã thị hiện các phép lạ đa dạng nhiều loại và đã làm hoan hỷ đấng Hiền Triết, vị thuyết giảng hàng đầu, cùng với đồ chúng. 349. Orohitvāna gaganā vanditvā isisattamaṃ, anuññātā naraggena yathāṭhāne nisīdisuṃ. Sau khi từ không trung đáp xuống, các vị ni đã đảnh lễ bậc Ẩn Sĩ tối thượng. Được sự cho phép của đấng Tối Thượng Nhân, các vị ni đã ngồi xuống đúng theo vị thế (nói rằng): 350. “Aho ’nukampikā amhaṃ sabbāsaṃ vīra gotamī, vāsitā tava puññehi pattā no āsavakkhayaṃ. “Ôi! Bạch đấng Anh Hùng, bà Gotamī là người có lòng từ mẫn đối với tất cả chúng con. Được sống nhờ vào những phước báu của Ngài, chúng con đã đạt được sự đoạn tận các lậu hoặc. 351. Kilesā jhāpitā amhaṃ bhavā sabbe samūhatā, nāgīva bandhanaṃ chetvā viharāma anāsavā. Các phiền não của chúng con đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là những con voi cái (đã được cởi trói), chúng con sống không còn lậu hoặc. 352. Svāgataṃ vata no āsi buddhaseṭṭhassa santike, tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ. Quả vậy, chúng con đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng. 353. Paṭisambhidā catasso vimokkhāpi ca aṭṭhime, chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ. Chúng con đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; chúng con đã thực hành lời dạy của đức Phật. 354. Iddhīsu ca vasī homa dibbāya sotadhātuyā, cetopariyañāṇassa vasī homa mahāmune. Bạch đấng Đại Hiền Triết, chúng con đã có năng lực về các loại thần thông và thiên nhĩ giới, chúng con đã có năng lực về trí biết tâm của người khác. 355. Pubbe nivāsaṃ jānāma dibbacakkhu visodhitaṃ, sabbāsavā parikkhīṇā natthidāni punabbhavo. Chúng con biết được đời sống trước đây, thiên nhãn được thanh tịnh, tất cả các lậu hoặc đã được cạn kiệt, giờ đây không còn tái sanh nữa. 356. Atthe ca dhamme nerutte paṭibhāne ca vijjati, ñāṇaṃ amhaṃ mahāvīra uppannaṃ tava santike. Bạch đấng Đại Hùng, trí của chúng con về ý nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và về phép biện giải là được phát hiện, được thành tựu trong sự hiện diện của Ngài. 357. Asmāhi pariciṇṇo ’si mettacittāhi nāyaka, anujānāhi sabbāsaṃ nibbānāya mahāmune.” Bạch đấng Lãnh Đạo, Ngài đã hành sử đối với chúng con bằng các từ tâm. Bạch đấng Đại Hiền Triết, xin Ngài cho phép về việc Niết Bàn đến tất cả (chúng con).” 358. “Nibbāyissāma iccevaṃ kiṃ vakkhāmi vadantiyo, yassadāni ca vo kālaṃ maññāthā’ti jino ’bravi. Đấng Chiến Thắng đã nói rằng: “Khi các nàng nói: ‘Chúng con sẽ Niết Bàn,’ như thế thì Ta còn nói điều gì nữa. Vậy thì giờ đây, các nàng hãy suy nghĩ về thời điểm của các nàng.” 359. Gotamī ādikā tāyo tadā bhikkhuniyo jinaṃ, vanditvā āsanā tamhā vuṭṭhāya agamaṃsu tā. Khi ấy, các vị tỳ khưu ni ấy đứng đầu là Gotamī, v.v... đã đảnh lễ đấng Chiến Thắng rồi đã từ chỗ ngồi ấy đứng dậy và các vị ni ấy đã ra đi. 360. Mahatā janakāyena saha lokagganāyako, anusaṃyāyi so vīro mātucchaṃ yāva koṭṭhakaṃ. Bậc Anh Hùng ấy, vị Lãnh Đạo tối cao của thế gian cùng với đại chúng đông đảo đã cùng đi theo người dì cho đến tận cổng. 361. Tadā nipati pādesu gotamī lokabandhuno, sahetarāhi sabbāhi pacchimaṃ pādavandanaṃ. Khi ấy, bà Gotamī đã cúi xuống ở các bàn chân của đấng Quyến Thuộc thế gian, là sự đảnh lễ bàn chân lần cuối cùng với tất cả các vị ni kia. 362. “Idaṃ pacchimakaṃ mayhaṃ lokanāthassa dassanaṃ, na puno amatākaraṃ passissāmi mukhaṃ tava. "Đây là lần nhìn thấy đấng Bảo Hộ Thế Gian lần cuối cùng của con. Con sẽ không còn nhìn thấy lại khuôn mặt của Ngài là nguồn phát sanh lên sự bất tử. 363. Na ca me vandanaṃ vīra tava pāde sukomale, samphusissāmi lokagga ajja gacchāmi nibbutiṃ. Và bạch đấng Anh Hùng, (đây) không phải là sự đảnh lễ của con ở bàn chân vô cùng mềm mại của ngài. Bạch đấng Tối Cao của thế gian, con sẽ sờ nắn (chúng); hôm nay con đi đến nơi an tịnh. 364. Rūpena kiṃ tavānena diṭṭhe dhamme yathātathe, sabbaṃ saṅkhatamevetaṃ anassāsitamittaraṃ.” Có gì với sắc tướng này của Ngài khi pháp đã được thấy đúng theo bản thể? Toàn bộ sắc tướng này chỉ là hữu vi, không được thoải mái, là tạm bợ.” 365. Sā tāhi saha gantvāna bhikkhunupassayaṃ sakaṃ, aḍḍhapallaṅkamābhujja nisīdi paramāsane. Sau khi đi về tu viện tỳ khưu ni của mình cùng với các vị ni ấy, bà Gotamī đã xếp chân bán già ngồi xuống ở trên chỗ ngồi cao nhất. 366. Tadā upāsikā tattha buddhasāsanavacchalā, tassā pavattiṃ sutvāna upesuṃ pādavandikā. Khi ấy, các nữ cư sĩ mến chuộng Phật Pháp ở tại nơi ấy, sau khi nghe được tin tức về bà ấy đã đi đến đảnh lễ ở bàn chân. 367. Karehi uraṃ pahantvā chinnamūlā yathā latā, rodantā karuṇaṃ rāvaṃ sokaṭṭā bhūmipātikā. Bị dằn vặt vì sầu muộn, họ đã đấm vào ngực bằng những bàn tay. Rồi giống như là các dây leo bị chặt đứt gốc rễ, họ đã ngã xuống ở trên đất trong khi nức nở tiếng khóc lóc thảm thương rằng: 368. “Mā no saraṇade nāthe vihāya gami nibbutiṃ, nipatitvāna yācāma sabbāyo sirasā mayaṃ.” “Hỡi người ban bố sự nương nhờ, hỡi người bảo hộ, xin người đừng từ bỏ chúng con mà đi đến nơi an tịnh. Toàn thể người nữ chúng con quỳ xuống đê đầu thỉnh cầu (người).” 369. Yā padhānatamā tāsaṃ saddhā paññā upāsikā, tassā sīsaṃ pamajjantī idaṃ vacanamabravi: Trong khi xoa đầu của người nữ cư sĩ có sự nỗ lực cao nhất, có tín tâm, có trí tuệ trong số ấy, bà Gotamī đã nói lời nói này: 370. “Alaṃ puttā visādena mārapāsānuvattinā, aniccaṃ saṅkhataṃ sabbaṃ viyogantaṃ calācalaṃ.” “Này các con, thôi đủ rồi bởi vì thất vọng là sự xoay vần theo mưu kế của Ma Vương. Tất cả pháp hữu vi là vô thường, sự chia lìa và sự tử vong là không chừng đổi.” 371. Tato sā tā vissajjitvā paṭhamaṃ jhānamuttamaṃ, dutiyaṃ tatiyaṃ cāpi samāpajji catutthakaṃ. Sau đó, bà ấy đã giã từ những người nữ ấy rồi đã thể nhập bậc thiền tối thượng thứ nhất, thứ nhì, thứ ba, và luôn cả bậc thứ tư. 372. Ākāsāyatanañceva viññāṇāyatanaṃ tathā, ākiñcaññaṃ nevasaññaṃ samāpajji yathākkamaṃ. Tương tợ như thế, theo tuần tự bà đã thể nhập không gian xứ, thức xứ, vô sở hữu, phi tưởng. 373. Paṭilomena jhānāni samāpajjittha gotamī, yāvatā paṭhamaṃ jhānaṃ tato yāva catutthakaṃ. Bà Gotamī đã thể nhập các bậc thiền theo chiều nghịch về lại bậc thiền thứ nhất, rồi từ đó tiến đến bậc thứ tư. 374. Tato vuṭṭhāya nibbāyi dīpaccīva nirāsanā, bhūmicālo mahā āsi nabhasā vijjutā pati. Từ đó bà đã xuất ra và đã Niết Bàn tợ như ngọn lửa của cây đèn cạn dầu. Đã có sự chuyển động của trái đất dữ dội, sét đã giáng xuống từ bầu trời. 375. Panāditā dundubhiyo parideviṃsu devatā, pupphavuṭṭhi ca gaganā abhivassatha mediniṃ. Các tiếng trống đã được vang lên, chư thiên đã than vãn, và cơn mưa bông hoa từ bầu trời đã đổ xuống trái đất. 376. Kampito merurājāpi raṅgamajjhe yathā naṭo, sokenevātidīno ca viravo āsi sāgaro. Ngọn núi chúa Meru cũng đã rung động tương tợ như người vũ công ở giữa sàn nhảy. Chính vì sầu muộn, biển cả đã có sự gào thét vô cùng thảm thiết. 377. Devā nāgāsurā brahmā saṃvigg’ āhaṃsu taṅkhaṇe: “Aniccā vata saṅkhārā yathāyaṃ vilayaṃ gatā. Vào giây phút ấy, chư Thiên, các Long Vương, Atula, và đấng Phạm Thiên bị chấn động đã thốt lên rằng: “Các pháp hữu vi quả thật là vô thường, vị ni này đã đi đến hoại diệt là thế ấy. 378. Yā c’ emaṃ parivāriṃsu satthusāsanakārikā, tāyo ’pi anupādānā dīpaccī viya nibbutā.” Và các vị ni nào là những người thực hành theo lời dạy của bậc Đạo Sư đã tháp tùng vị ni này, các vị ni ấy cũng không còn chấp thủ, như là ngọn lửa của cây đèn đã bị lụi tàn.” 379. “Hā yogā vippayogantā hāniccaṃ sabbasaṅkhataṃ, hā jīvitaṃ vināsantaṃ” iccāsi paridevanā. Và đã có sự than vãn rằng: “Chao ôi! Các sự hội tụ có sự chia lìa là điểm kết thúc. Chao ôi! Tất cả pháp hữu vi là vô thường. Chao ôi! Cuộc sống có sự hoại diệt là điểm kết thúc.” 380. Tato devā ca brahmā ca lokadhammānuvattanaṃ, kālānurūpaṃ kubbanti upetvā isisattamaṃ. Sau đó, chư Thiên và đấng Phạm Thiên (đã) tiến hành công việc thuận theo pháp thế gian, đúng thời điểm, rồi đã đi đến gần vị Đệ Nhất Ẩn Sĩ. 381. Tadā āmantayī satthā ānandaṃ sutisāgaraṃ, “Gacchānanda nivedehi bhikkhūnaṃ mātunibbutiṃ.” Khi ấy, bậc Đạo Sư đã bảo ngài Ānanda là vị có sự học ví như biển cả rằng: “Này Ānanda, hãy đi thông báo đến các tỳ khưu về việc Niết Bàn của mẹ.” 382. Tad’ ānando nirānando assunā puṇṇalocano, gaggadena sarenāha “Samāgacchantu bhikkhavo. Khi ấy, ngài Ānanda, không còn nét hân hoan,[8] mắt đẫm lệ, đã nói với giọng nói nghẹn ngào rằng: “Hỡi chư tỳ khưu, hãy cùng nhau đi đến. 383. Pubbadakkhiṇapacchāsu uttarāyaṃ vasanti ye, suṇantu bhāsitaṃ mayhaṃ bhikkhavo sugatorasā. Hỡi chư tỳ khưu là các đệ tử của đấng Thiện Thệ đang ngụ ở các hướng đông, nam, tây, bắc, xin hãy lắng nghe lời nói của tôi. 384. Yā vaḍḍhayi payattena sarīraṃ pacchimaṃ mune, sā gotamī gatā santiṃ tārāva suriyodaye. Bà gotamī ấy, người đã ra sức nuôi dưỡng xác thân cuối cùng của đấng Hiền Triết, đã đi đến nơi an tịnh như là vì sao vào lúc ló dạng của mặt trời. 385. Buddhamātāti paññattiṃ ṭhapayitvā gatāsamaṃ, na yattha pañcanettopi gataṃ dakkhati nāyako. Sau khi đã thiết lập danh xưng cho vị ni đã ngự đến Niết Bàn là “Người Mẹ của đức Phật,” đấng Lãnh Đạo, dầu là bậc Ngũ Nhãn, cũng không nhìn thấy nơi nào là nơi (bà) đã đi đến. 386. Yassatthi sugate saddhā yo ca piyo mahāmune, buddhamātarī sakkāraṃ karotu sugatoraso.” Vị nào có niềm tin vào đấng Thiện Thệ, và vị nào yêu quý bậc Đại Hiền Triết, xin vị đệ tử của đấng Thiện Thệ hãy thể hiện sự tôn kính đối với người mẹ của đức Phật.” 387. Sudūraṭṭhāpi taṃ sutvā sīghamāgañchu bhikkhavo, keci buddhānubhāvena keci iddhisu kovidā. Sau nghe được điều ấy, các vị tỳ khưu thậm chí từ quốc độ vô cùng xa xôi đã nhanh chóng đi đến, một số vị là nhờ vào năng lực của đức Phật, một số vị là được thuần thục về các thần thông. 388. Kūṭāgāravare ramme sabbasoṇṇamaye subhe, mañcakaṃ samaropesuṃ yattha suttāsi gotamī. Ở trong ngôi nhà mái nhọn cao quý đáng yêu toàn bộ làm bằng vàng sáng chói, các vị đã cùng nhau sắp đặt chiếc giường nhỏ là nơi bà Gotamī an nghỉ. 389. Cattāro lokapālā te aṃsehi samadhārayuṃ, sesā sakkādayo devā kūṭāgāre samaggahuṃ. Bốn vị (Trời) hộ trì thế gian ấy đã cùng nhau gánh vác bằng những bả vai. Chư Thiên còn lại như là (vua trời) Sakka, v.v... đã cùng nhau khiêng các ngôi nhà mái nhọn. 390. Kūṭāgārāni sabbāni āsuṃ pañcasatānipi, saradādiccavaṇṇāni vissakammakatāni hi. Toàn bộ đã có đến năm trăm ngôi nhà mái nhọn có màu sắc như ánh mặt trời vào mùa thu đều đã được tạo nên bởi vị trời Vissakamma. 391. Sabbāpi tā bhikkhuniyo āsuṃ mañcesu sāyitā, devānaṃ khandhamāruḷhā niyyanti anupubbaso. Toàn thể các vị tỳ khưu ni ấy đã được đặt nằm trên những chiếc giường được nâng lên đặt ở vai của chư Thiên rồi được tuần tự rước đi. 392. Sabbaso chāditaṃ āsi vitānena nabhatthalaṃ, satārā candasuriyā lañchitā kanakāmayā. Bề mặt không trung đã được che phủ toàn bộ bằng mái che. Mặt trăng, mặt trời, cùng các vì sao đã được ghi dấu hiệu bằng vàng. 393. Patākā ussitā nekā vitatā pupphakañcukā, ogatākāsapadumā mahiyā pupphamuggataṃ. Vô số ngọn cờ đã được dựng lên, các tấm màn hoa đã được trải rộng, từ trên không trung những đóa hoa sen đã rơi xuống, ở trên mặt đất là bông hoa đã được vun cao. 394. Dissanti candasuriyā pajjalanti ca tārakā, majjhaṃgatopi cādicco na tāpeti sasī yathā. Mặt trăng và mặt trời được nhìn thấy và các vì sao lấp lánh. Và mặt trời dầu đã đi đến chính ngọ nhưng không làm cho nóng bức, tợ như là mặt trăng vậy. 395. Devā dibbehi gandhehi mālehi surabhīhi ca, vāditehi ca naccehi saṅgītīhi ca pūjayuṃ. Chư Thiên đã cúng dường bằng các hương thơm ở cõi trời, những tràng hoa thơm ngát, các khúc nhạc, những điệu vũ, và các bản đồng ca. 396. Nāgā surā ca brahmāno yathāsatti yathābalaṃ, pūjāyiṃsu ca nīyantiṃ nibbutaṃ buddhamātaraṃ. Và các vị Long Vương, chư Thiên, và các Phạm Thiên tùy theo khả năng, tùy theo sức lực đã cúng dường người mẹ của đức Phật đã Niết Bàn đang được rước đi. 397. Sabbāyo purato nītā nibbutā sugatorasā, gotamī nīyate pacchā sakkatā buddhapositā. Toàn bộ các vị ni đệ tử của đấng Thiện Thệ đã tịch diệt là được rước đi ở phía trước, bà Gotamī, người đã nuôi dưỡng đức Phật, được kính trọng, đã được rước đi phía sau. 398. Purato devamanujā sanāgāsurabrahmakā, pacchā sasāvako buddho pūjatthaṃ yāti mātuyā. Chư Thiên và nhân loại cùng với các Long Vương, A-tu-la, Phạm Thiên là ở phía trước, đức Phật cùng các vị Thinh Văn đi ở phía sau nhằm mục đích tôn vinh người mẹ. 399. Buddhassa parinibbānaṃ nedisaṃ āsi yādisaṃ, gotamī parinibbānaṃ atīvacchariyaṃ ahu. Lễ viên tịch Niết Bàn của đức Phật đã là như thế nào chứ không được như thế này, lễ viên tịch Niết Bàn của bà Gotamī đã là vô cùng phi thường. 400. Buddho buddhassa nibbāne nopadissati bhikkhavo, buddho gotaminibbāne sāriputtādikā tathā. Ở lễ Niết Bàn của đức Phật, đức Phật không hiện diện (chỉ có) các vị tỳ khưu. Ở lễ Niết Bàn của bà Gotamī có đức Phật cũng như có các vị Sāriputta, v.v... 401. Citakāni karitvāna sabbagandhamayāni te, gandhacuṇṇāvakiṇṇāni jhāpayiṃsu ca tā tahiṃ. Các vị ấy đã thực hiện các giàn hỏa thiêu được làm bằng tất cả các loại vật thơm, được rải rắc các loại bột phấn thơm, rồi đã hỏa thiêu bà ở nơi đó. 402. Sesabhāgāni ḍayhiṃsu aṭṭhisesāni sabbaso, ānando ca tadāvoca saṃvegajananaṃ vaco: Các phần còn sót lại đã được đốt cháy toàn bộ, toàn bộ phần còn lại là các hạt xương. Và khi ấy, ngài Ānanda đã nói lời nói khơi dậy nỗi chấn động: 403. “Gotamī nidhanaṃ yātā daḍḍhaṃ cassā sarīrakaṃ, saṅke ’haṃ buddhanibbānaṃ na cirena bhavissati.” “Bà Gotamī đã đi đến sự yên nghỉ, và thi thể của bà ấy đã được thiêu đốt. Tôi e rằng sự Niết Bàn của đức Phật sẽ là không lâu.” 404. Tato gotamidhātūni tassā pattagatāni so, upanāmesi nāthassa ānando buddhacodito. Sau đó, được đức Phật khuyên bảo vị Ānanda ấy đã dâng lên đấng Bảo Hộ các xá-lợi của bà Gotamī đã được đặt vào trong bình bát của bà ấy. 405. Pāṇinā tāni paggayha avoca isisattamo: “Mahato sāravantassa yathā rukkhassa tiṭṭhato. Sau khi đã nhận lấy các xá-lợi bằng bàn tay, vị Đệ Nhất Ẩn Sĩ đã nói rằng: “So sánh với thân cây to lớn có lõi đang đứng thẳng, ... 406. Yo so mahattaro khandho palujjeyya aniccatā, tathā bhikkhunīsaṅghassa gotamī parinibbutā. ... giống cây nào dầu có thân lớn hơn vẫn bị ngã xuống bởi vì tính chất vô thường, tương tợ như thế bà Gotamī của hội chúng tỳ khưu ni đã viên tịch Niết Bàn. 407. Aho acchariyaṃ mayhaṃ nibbutāyapi mātuyā, sarīramattasesāya natthi sokapariddavo. Ôi! Quả là ngạc nhiên đối với Ta ngay cả trong sự Niết Bàn của người mẹ chỉ còn lại phần nhỏ về xá-lợi, không có gì sầu muộn hay than vãn. 408. Na sociyā paresaṃ sā tiṇṇasaṃsārasāgarā, parivajjitasantāpā sītibhūtā sunibbutā. Những người khác không có gì phải sầu khổ, bà ấy có biển cả luân hồi đã được vượt qua, sự bực bội đã lìa, được trạng thái mát mẻ, đã Niết Bàn tốt đẹp. 409. Paṇḍitāsi mahāpaññā puthupaññā tatheva ca, rattaññū bhikkhunīnaṃ sā evaṃ dhāretha bhikkhavo. Bà đã là vị thông thái có tuệ vĩ đại, và tương tợ như thế ấy bà là vị có tuệ bao quát, là vị kỳ cựu trong số các tỳ khưu ni. Này các tỳ khưu, các ngươi hãy ghi nhận như thế ấy. 410. Iddhiyā ca vasī āsi dibbāya sotadhātuyā, cetopariyañāṇassa vasī āsi ca gotamī. Bà Gotamī đã có năng lực về thần thông, về thiên nhĩ giới, và đã có năng lực về trí biết tâm của người khác. 411. Pubbe nivāsaṃ aññāsi dibbacakkhu visodhitaṃ, sabbāsavaparikkhīṇā natthi tassā punabbhavo. Bà đã biết được đời sống trước đây, thiên nhãn đã được thanh tịnh, tất cả các lậu hoặc đã được cạn kiệt, đối với bà ấy không còn tái sanh nữa. 412. Atthadhammaniruttīsu paṭibhāne tatheva ca, parisuddhaṃ ahu ñāṇaṃ tasmā socaniyā na sā. Bà ấy đã có được trí hoàn toàn thanh tịnh về ý nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và tương tợ y như thế về phép biện giải; vì thế không nên sầu muộn. 413. Ayoghanahatasseva jalato jātavedaso, anupubbūpasantassa yathā na ñāyate gati. Giống như đối với ngọn lửa cháy sáng hủy hoại luôn cả chiếc búa sắt (nhưng khi) đã được dập tắt theo tuần tự thì nơi đi đến cũng không được biết. 414. Evaṃ sammā vimuttānaṃ kāmabandhoghatārinaṃ, paññāpetuṃ gati natthi pattānaṃ acalaṃ padaṃ. Tương tợ như vậy, đối với những người đã được giải thoát đúng đắn, có sự vượt qua dòng lũ ràng buộc của các dục lạc, đã đạt được vị thế bất động thì không còn cảnh giới tái sanh nào đế nhận biết nữa. 415. Attadīpā tato hotha satipaṭṭhānagocarā, bhāvetvā sattabojjhaṅge dukkhassantaṃ karissathā’ti. Do đó, các ngươi hãy là hòn đảo của chính bản thân, có hành xứ là các sự thiết lập niệm. Sau khi tu tập bảy chi phần giác ngộ, các ngươi sẽ làm chấm dứt sự khổ đau.” Itthaṃ sudaṃ Mahāpajāpatigotamī imā gāthāyo abhāsitthāti. Vị tỳ khưu ni Mahāpajāpatigotamī đã nói lên những lời kệ này như thế ấy. Mahāpajāpatigotamītheriyāpadānaṃ sattamaṃ. Ký sự về trưởng lão ni Mahāpajāpatigotamī là phần thứ bảy. | ||||