25. Ký Sự về Nandā - Mỹ Nhân của Xứ Sở: 804. Padumuttaro nāma jino sabbadhammānapāragū, ito satasahassamhi kappe uppajji nāyako. Trước đây một trăm ngàn kiếp, vị Lãnh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất cả các pháp đã hiện khởi. 805. Ovādako viññāpako kārako sabbapāṇinaṃ, desanākusalo buddho tāresi janataṃ bahuṃ. Là vị giáo giới, vị làm cho hiểu rõ, vị hành xử đối với tất cả chúng sanh, là thiện xảo trong việc chỉ dạy, đức Phật đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua. 806. Anukampako kāruṇiko hitesī sabbapāṇinaṃ, sampatte titthiye sabbe pañcasīle patiṭṭhahi. Là bậc Thương Tưởng, đấng Bi Mẫn, vị Ẩn Sĩ hữu ích đối với tất cả chúng sanh, Ngài đã an trú vào ngũ giới cho tất cả các ngoại đạo đã đi đến. 807. Evaṃ nirākulaṃ āsi suññakaṃ titthiyehi ca, vicittaṃ arahantehi vasībhūtehi tādihi. Như thế, được tô điểm với các vị A-la-hán có được năng lực như thế ấy, (thế gian) đã không bị rối loạn và không có các ngoại đạo. 808. Ratanānaṭṭhapaññāsaṃ uggato so mahāmuni, kañcanagghiyasaṅkāso battiṃsavaralakkhaṇo. Bậc Đại Hiền Triết ấy có ba mươi hai quý tướng, cao năm mươi tám ratana (14.50 m) tợ như cây cột trụ bằng vàng. 809. Vassasatasahassāni āyu vijjati tāvade, tāvatā tiṭṭhamāno so tāresi janataṃ bahuṃ. Cho đến khi ấy, tuổi thọ được biết là một trăm ngàn năm. Trong khi tồn tại như thế, Ngài đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua. 810. Tadā ’haṃ haṃsavatiyaṃ jātā seṭṭhikule ahuṃ, nānāratanapajjote mahāsukhasamappite. Khi ấy, tôi đã được sanh ra ở tại Haṃsavatī, trong gia đình triệu phú được rạng rỡ với vô số loại châu báu, được đầy đủ với những lạc thú lớn lao. 811. Upetvā taṃ mahāvīraṃ assosiṃ dhammadesanaṃ, amataṃ paramassādaṃ paramatthanivedakaṃ. Tôi đã đi đến đấng Đại Hùng ấy và đã lắng nghe lời thuyết giảng Giáo Pháp Bất Tử, có phẩm vị tối thắng, làm rõ về chân lý tuyệt đối. 812. Tadā nimantayitvāna sasaṅghaṃ lokanāyakaṃ, datvā tassa mahādānaṃ pasannā sehi pāṇihi. Khi ấy, được tịnh tín tôi đã thỉnh mời đấng Lãnh Đạo Thế Gian cùng với hội chúng và đã cúng dường đại thí đến vị ấy bằng hai bàn tay của mình. 813. Jhāyinīnaṃ bhikkhunīnaṃ aggaṭṭhānaṃ apatthayiṃ, nipacca sirasā vīraṃ sasaṅghaṃ lokanāyakaṃ. Tôi đã quỳ xuống đê đầu đến bậc Anh Hùng đấng Lãnh Đạo Thế Gian cùng với hội chúng, tôi đã ước nguyện vị thế tối thắng trong số các tỳ khưu ni chứng thiền. 814. Tadā adantadamako tilokasaraṇo pabhū, vyākāsi narasaddūlo lacchase taṃ supatthitaṃ. Khi ấy, bậc Điều Phục những ai chưa được điều phục, đấng Nương Nhờ của ba cõi, vị Chúa Tể, bậc Nhân Báo đã chú nguyện rằng: “Con sẽ đạt được điều đã khéo được ước nguyện ấy. 815. Satasahasse ito kappe okkākakulasambhavo, gotamo nāma gottena satthā loke bhavissati. Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian. 816. Tassa dhammesu dāyādā orasā dhammanimmitā, nandāti nāma nāmena hessasi satthusāvikā.” (Người nữ này) sẽ trở thành nữ thinh văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên là Nandā.” 817. Taṃ sutvā muditā hutvā yāvajīvaṃ tadā jinaṃ, mettacittā paricariṃ paccayehi vināyakaṃ. Nghe được điều ấy, tôi đã trở nên hoan hỷ. Khi ấy, với tâm từ ái tôi đã chăm sóc đấng Chiến Thắng, bậc Hướng Đạo bằng các vật dụng cho đến hết cuộc đời. 818. Tena kammena sukatena cetanāpaṇidhīhi ca, jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsaṃ agacchahaṃ. Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi. 819. Tato cutā yāmamagaṃ tato ’haṃ tusitaṃ agaṃ, tato ca nimmāṇaratiṃ vasavattipuraṃ tato. Từ nơi ấy chết đi, tôi đã đi đến cõi trời Dạ Ma, từ đó đã đi đến cõi trời Đẩu Suất, và từ đó đến cõi Hóa Lạc Thiên, rồi từ đó đến cõi Tha Hóa Tự Tại. 820. Yattha yatthūpapajjāmi tassa kammassa vāhasā, tattha tattheva rājānaṃ mahesittamakārayiṃ. Do tác động của nghiệp ấy, ở bất cứ nơi nào tôi sanh ra, tôi đều đã được thiết lập vào ngôi chánh hậu của các vị vua ở chính tại các nơi ấy. 821. Tato cutā manussatte rājānaṃ cakkavattīnaṃ, maṇḍalīnañca rājānaṃ mahesittamakārayiṃ. Từ nơi ấy chết đi (sanh) vào thân nhân loại, tôi đã được thiết lập vào ngôi chánh hậu của các vị Chuyển Luân Vương và các vị vua cai quản các lãnh thổ. 822. Sampattiṃ anubhotvāna devesu manujesu ca, sabbattha sukhitā hutvā nekakappesu saṃsariṃ. Tôi đã thọ hưởng sự thành đạt ở giữa chư thiên và loài người, đã được an vui ở tất cả các nơi, và đã luân hồi qua nhiều (đại) kiếp. 823. Pacchime bhave sampatte puramhi kapilavhaye, rañño suddhodanassāhaṃ dhītā āsiṃ aninditā. Khi đạt đến kiếp sống cuối cùng, tôi đã là người con gái hoàn hảo của đức vua Suddhodana tại thành phố tên là Kapila. 824. Siriṃva rūpiniṃ disvā nanditaṃ āsi taṃ kulaṃ, tena nandāti me nāmaṃ sundaropapadaṃ ahū. Nhìn thấy (tôi) có nét đẹp vô cùng rạng rỡ, gia đình ấy đã trở nên vui vẻ; vì thế tôi có tên là “Nandā” (vui vẻ). Tôi đã được công nhận là xinh đẹp. 825. Yuvatīnañca sabbāsaṃ kalyāṇīti ca vissutā, tasmimpi nagare ramme ṭhapetvā ca yasodharā. Và cũng ở trong thành phố đáng yêu ấy, tôi đã được nổi danh là “Mỹ nhân” trong số tất cả các thiếu nữ ngoại trừ Yasodharā. 826. Jeṭṭho bhātā tilokaggo pacchimo arahā tathā, ekākinī gahaṭṭhāhaṃ mātarā paricoditā. Người anh trai đầu là đấng Cao Cả của tam giới, cũng vậy người út là vị A-la-hán. Mỗi một mình tôi là người tại gia, tôi đã bị mẹ quở trách rằng: 827. “Sākiyamhi kule jātā putte buddhānujā tuvaṃ, nandenapi vinā bhūtā agāre kinnu vacchasi? “Này con, được sanh trong gia tộc dòng Sakya (Thích Ca), con là em gái của đức Phật. Con cũng không còn có Nanda nữa, việc gì con lại ở tại gia? 828. Jarāvasānaṃ yobbaññaṃ rūpaṃ asucisammataṃ, rogantampi ca ārogyaṃ jīvitaṃ maraṇantikaṃ. Tuổi trẻ có sự già là nơi cư ngụ, xác thân được xem là bất tịnh, vô bệnh cũng có bệnh là điểm cuối cùng, mạng sống có sự chết là nơi chấm dứt. 829. Idampi te subhaṃ rūpaṃ sasikantaṃ manoharaṃ, bhūsanānamalaṅkāraṃ sirisaṅghātasannibhaṃ. Sắc thân này của con dầu là xinh đẹp, được yêu dấu như là mặt trăng, quyến rũ, có sự trang điểm của những đồ trang sức như là được gắn liền với sự rạng rỡ. 830. Piṇḍitaṃ lokasāraṃva nayanānaṃ rasāyanaṃ, puññānaṃ kittijananaṃ okkākakulanandanaṃ. (Sắc thân này của con) được gộp chung lại thuần sự tinh túy của thế gian, là sự đem lại chất vị cho những con mắt, là sự sản xuất ra danh thơm của các điều phước thiện, là niềm vui của gia tộc Okkāka. 831. Na cireneva kālena jarā samatibhossati, vihāya gehaṃ tāruññe cara dhammamanindite. Vào thời gian chẳng bao lâu nữa, sự già sẽ ngự trị. Này cô gái trẻ, hãy từ bỏ gia đình. Này cô gái hoàn hảo, hãy thực hành Giáo Pháp.” 832. Sutvā ’haṃ mātuvacanaṃ pabbajiṃ anagāriyaṃ, dehena na tu cittena rūpayobbanalālitā. Được vui thích với sắc đẹp và tuổi trẻ, sau khi nghe lời nói của người mẹ, tôi đã xuất gia vào cuộc sống không gia đình bằng thân chứ không phải bằng tâm. 833. Mahatā ca payattena jhānajjhenaparaṃ mamaṃ, kātuṃ ca vadate mātā na cāhaṃ tattha ussukā. Và với sự cố gắng lớn lao, tôi đã suy tưởng về điều vô cùng trái ngược. Và (việc) người mẹ bảo làm, tôi đã không năng nổ về việc ấy. 834. Tato mahākāruṇiko disvā maṃ kāmalālasaṃ, nibbindanatthaṃ rūpasmiṃ mama cakkhupathe jino. Do đó, bậc Đại Bi, đấng Chiến Thắng, đã nhìn thấy tôi có lòng khao khát về các dục, và đối với tôi ý nghĩa của sự nhàm chán về xác thân là qua lộ trình của mắt. 835. Sakena anubhāvena itthiṃ māpesi sobhaniṃ, dassanīyaṃ suruciraṃ mamatopi surūpiniṃ. Bằng năng lực tự thân, Ngài đã làm hiện ra người phụ nữ lộng lẫy, đáng nhìn, rất dễ thương, vô cùng xinh đẹp hơn hẳn luôn cả tôi. 836. Tamahaṃ vimhitā disvā ativimhitadehiniṃ, cintayiṃ saphalaṃ meti nettalābhañca mānusaṃ. Sau khi nhìn thấy người nữ có thân thể vô cùng kinh ngạc ấy, bị sửng sốt, và tôi đã suy nghĩ về sự lợi ích thuộc về nhân gian đối với con mắt rằng: “Có quả báu đến ta.” 837. Tamahaṃ ehi subhage yenattho taṃ vadehi me, kulaṃ te nāmagottañca vada me yadi te piyaṃ. Này cô em yêu dấu, hãy đến với tôi đây. Có cần gì nàng hãy nói với tôi. Hãy nói với tôi về gia đình, tên, dòng họ của nàng nếu nàng ưng ý. 838. Na pañhakālo subhage ucchaṅge maṃ nivesaya, sīdantīva mamaṅgāni supasuppaya muhuttakaṃ. Này cô em yêu dấu, không phải là lúc hỏi han. Hãy cho tôi tựa vào lòng. Tay chân của tôi như là chìm xuống. Nàng hãy ru tôi ngủ một chốc.” 839. Tato sīsaṃ mamaṅke sā katvā sayi sulocanā, tassā nalāṭe patitā lūtā paramadāruṇā. Sau đó, nàng có đôi mắt xinh đẹp ấy đã kê đầu vào hông của tôi rồi đã thiếp đi. Có con nhện vô cùng ghê rợn đã rơi xuống ở trán của nàng. 840. Saha tassā nipātena piḷakā uppajjatha, pagghariṃsu pabhinnā ca kuṇapā pubbalohitā. Cùng với sự rơi xuống của con nhện ấy, mụn nhọt đã nổi lên. Chúng đã rò rỉ, vỡ ra, và toàn thân là mủ và máu. 841. Pabhinnaṃ vadanaṃ cāsi kuṇapaṃ pūtigandhikaṃ, uddhumātaṃ vinilañca vipubbañca sarīrakaṃ. Và khuôn mặt đã bị nứt nẻ, thi thể có mùi hôi thối. Toàn thân bị trương lên, đổi sang màu tím, và thối rửa. 842. Sā pavedhitasabbaṅgī nissasantī muhuṃ muhuṃ, vedayantī sakaṃ dukkhaṃ karuṇaṃ paridevayī. Nàng ấy, có toàn thể các bộ phận bị run rẩy, chốc chốc lại bị hụt hơi, trong khi cảm nhận sự khổ đau của mình, đã than vãn một cách thê lương rằng: 843. “Dukkhena dukkhitā homi phusayanti ca vedanā, mahādukkhe nimuggāmhi saraṇaṃ hohi me sakhī.” “Tôi bị khổ sở vì nỗi đau đớn, và các cảm thọ được chạm đến, tôi bị đắm chìm trong nỗi khổ đau lớn lao. Này cô bạn gái, bạn hãy là nơi nương nhờ của tôi.” 844. “Kuhiṃ vadanasobhā te kuhiṃ te tuṅganāsikā, tambabimbavaroṭṭhaṃ te vadanaṃ te kuhiṃ gataṃ. “Vẻ đẹp ở khuôn mặt của cô đâu rồi? Lỗ mũi cao của cô đâu rồi? Làn môi màu đỏ của trái cây bimba tuyệt hảo của cô, khuôn mặt của cô đã đi đâu rồi? 845. Kuhiṃ sasinibhaṃ vattaṃ kambugīvā kuhiṃ gatā, doḷālālā ca te kaṇṇā vevaṇṇaṃ samupāgatā. Gương mặt tợ như mặt trăng đâu rồi? Chiếc cổ ba ngần đã đi đâu rồi? Và các lỗ tai run rẩy lung linh của cô đã đi đến tình trạng thay đổi rồi. 846. Makuḷamburuhākārā kalasāva payodharā, pabhinnā pūtikuṇapā duggandhittamāgatā. Bộ ngực có hình dáng đóa hoa sen còn dạng chồi tợ như bầu nước đã trở thành thi thể hôi thối, bị phân rã, có mùi khó chịu. 847. Tanumajjhā puthussoṇi sūnā vaṇitakibbisā, jātā amejjhabharitā aho rūpaṃ asassataṃ. Eo thon, mông đầy đặn, bị sưng lên, có sự lở lói và độc hại, trở thành nơi chứa đầy vật không trong sạch; ôi xác thân là không vĩnh viễn! 848. Sabbaṃ sarīrasañjātaṃ pūtigandhaṃ bhayānakaṃ, susānamiva bībhacchaṃ ramante yattha bālisā.” Toàn bộ nguồn gốc của thân thể là có mùi hôi thối, có sự hãi sợ, như là bãi tha ma kinh hoàng, lại là nơi mà những kẻ ngu hứng thú!” 849. Tadā mahākāruṇiko bhātā me lokanāyako, disvā saṃviggacittaṃ maṃ imā gāthā abhāsatha. Khi ấy, sau khi nhìn thấy tôi có tâm bị chấn động, đấng Đại Bi, bậc Lãnh Đạo Thế Gian, người anh trai của tôi, đã nói lên những lời kệ này : 850. “Āturaṃ asuciṃ pūtiṃ passa nande samussayaṃ, asubhāya cittaṃ bhāvehi ekaggaṃ susamāhitaṃ. “Này Nandā, hãy nhìn thân thể bệnh hoạn, bất tịnh, hôi thối. Em hãy tu tập tâm về đề mục bất mỹ (tử thi) trở thành chuyên nhất, khéo được tập trung. 851. Yathā idaṃ tathā etaṃ yathā etaṃ tathā idaṃ, duggandhaṃ pūtikaṃ vāpi bālānaṃ abhinanditaṃ. Thân này như thế nào thì xác kia như vậy, xác kia như thế nào thì thân này như vậy, có mùi khó chịu hoặc hôi thối lại được hứng thú đối với những kẻ ngu. 852. Evametaṃ avekkhantī rattindivamatanditā, tato satāya paññāya abhinibbijja dakkhasi.” Trong khi xem xét xác thân này như thế ngày và đêm không mệt mỏi, từ đó với niệm với tuệ sau khi đã nhàm chán thì em sẽ nhìn thấy.” 853. Tato ’haṃ atisaṃviggā sutvā gāthā subhāsitā, tatraṭṭhitā vipassantī arahattamapāpuṇiṃ. Do đó, sau khi nghe được các lời kệ khéo thuyết, tôi đã bị vô cùng chấn động. Đứng tại chỗ ấy, trong lúc quán sát tôi đã đạt được quả vị A-la-hán. 854. Yattha yattha nisinnāhaṃ sadā jhānaparāyanā, jino tasmiṃ guṇe tuṭṭho etadagge ṭhapesi maṃ. Ngồi xuống ở bất cứ nơi nào, tôi luôn luôn có mục đích chính là thiền. Hoan hỷ về đức hạnh ấy, đấng Chiến Thắng đã thiết lập tôi vào vị thế tối thắng. 855. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā, nāgīva bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavā. Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc. 856. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike, tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ. Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng. 857. Paṭisambhidā catasso vimokkhāpi ca aṭṭhime, chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ. Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật. Itthaṃ sudaṃ Nandā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti. Tỳ khưu ni Nandā đã nói lên những lời kệ này như thế ấy. Nandātheriyāpadānaṃ pañcamaṃ. Ký sự về trưởng lão ni Nandā là phần thứ năm. | ||||