20. Paṭācārāpadānaṃ
20. Ký Sự về Paṭācārā: 595. Padumuttaro nāma jino sabbadhammānapāragū, ito satasahassamhi kappe uppajji nāyako. Trước đây một trăm ngàn kiếp, vị Lãnh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất cả các pháp đã hiện khởi. 596. Tadāhaṃ haṃsavatiyaṃ jātā seṭṭhikule ahuṃ, nānāratanapajjote mahāsukhasamappitā. Khi ấy, tôi đã được sanh ra ở tại Haṃsavatī, trong gia đình triệu phú được rạng rỡ với vô số loại châu báu, tôi đã được thừa hưởng lạc thú lớn lao. 597. Upetvā taṃ mahāvīraṃ assosiṃ dhammadesanaṃ, tato jātappasādā ’haṃ upesiṃ saraṇaṃ jinaṃ. Tôi đã đi đến bậc Đại Hùng ấy và đã lắng nghe lời giảng Pháp. Sau đó, có niềm tịnh tín sanh khởi, tôi đã đến nương nhờ vào đấng Chiến Thắng. 598. Tato vinayadhārīnaṃ aggaṃ vaṇṇesi nāyako, bhikkhuniṃ lajjiniṃ tādiṃ kappākappavisāradaṃ. Sau đó, đấng Lãnh Đạo đã tán dương vị tỳ khưu ni khiêm tốn như thế ấy, được tự tin về các điều được phép và không được phép, là đứng đầu trong số các vị ni thông suốt về Luật. 599. Tadā muditacittā ’haṃ taṃ ṭhānamabhikaṅkhinī, nimantetvā dasabalaṃ sasaṅghaṃ lokanāyakaṃ. Khi ấy, có tâm được hân hoan, có sự mong muốn về vị thế ấy, tôi đã thỉnh mời đấng Thập Lực vị Lãnh Đạo Thế Gian cùng với hội chúng. 600. Bhojayitvāna sattāhaṃ daditvā ca ticīvaraṃ, nipacca sirasā pade idaṃ vacanamabraviṃ: Sau khi đã dâng vật thực trong bảy ngày, tôi đã cúng dường ba y, rồi đã quỳ xuống đê đầu ở bàn chân và đã nói lời nói này: 601. “Yā tayā vaṇṇitā vīra ito aṭṭhamake ’hani, tādisā ’haṃ bhavissāmi yadi sijjhati nāyaka.” “Bạch đấng Anh Hùng, vị ni đã được Ngài tán dương vào tám ngày trước đây. Bạch đấng Lãnh Đạo, nếu được thành tựu con sẽ trở thành như vị ni ấy.” 602. Tadā avoca maṃ satthā “Bhadde mā bhāyi assasa, anāgatamhi addhāne lacchase taṃ manorathaṃ. Khi ấy, bậc Đạo Sư đã nói với tôi rằng: “Này cô gái hiền thục, chớ lo ngại, hãy yên tâm. Trong thời vị lai xa xôi, con sẽ đạt được điều mong ước ấy. 603. Satasahasse ito kappe okkākakulasambhavo, gotamo nāma gottena satthā loke bhavissati. Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian. 604. Tassa dhammesu dāyādā orasā dhammanimmitā, paṭācārāti nāmena hessasi satthusāvikā.” (Người nữ này) sẽ trở thành nữ thinh văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên là Paṭācārā.” 605. Tadā ’haṃ muditā hutvā yāvajīvaṃ tato jinaṃ, mettacittā paricariṃ sasaṅghaṃ lokanāyakaṃ. Khi ấy, tôi đã được hoan hỷ. Với tâm từ mẫn tôi đã phục vụ đấng Chiến Thắng bậc Lãnh Đạo Thế Gian cùng với hội chúng từ đó cho đến hết cuộc đời. 606. Tena kammena sukatena cetanāpaṇidhīhi ca, jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsaṃ agacchahaṃ. Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi. 607. Imasmiṃ bhaddake kappe brahmabandhu mahāyaso, kassapo nāma gottena uppajji vadataṃ varo. Ở vào kiếp Bhadda này, trong số các vị đang thuyết giảng đã hiện khởi đấng cao quý tên Kassapa, thuộc dòng dõi, có danh tiếng vĩ đại, là thân quyến của đấng Phạm Thiên. 608. Upaṭṭhāko mahesissa tadā āsi narissaro, kāsirājā kikī nāma bārāṇasisuparuttame. Khi ấy, có vị quân vương là đức vua xứ Kāsi tên Kikī ở tại kinh thành Bārāṇasī là người hộ độ của bậc Đại Ẩn Sĩ. 609. Tass’ āsiṃ tatiyā dhītā bhikkhunī iti vissutā, dhammaṃ sutvā jinaggassa pabbajjaṃ samarocayiṃ. Tôi đã là người con gái thứ ba của vị (vua) ấy được nổi danh là Bhikkhunī. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng cao cả, tôi đã xin xuất gia. 610. Anujāni na no tāto agāreva tadā mayaṃ, vīsaṃ vassasahassāni vicarimha atanditā. Cha đã không cho phép chúng tôi. Khi ấy, dầu chỉ là người tại gia chúng tôi đã đi đây đó trong hai chục ngàn năm, không mệt mỏi. 611. Komāribrahmacariyaṃ rājakaññā sukhedhitā, buddhupaṭṭhānaniratā muditā satta dhītaro. Là những người con gái của đức vua được nuôi dưỡng sung sướng về tư cách nghiêm trang của người thiếu nữ. Được hoan hỷ, bảy người con gái đã vui thích trong việc hộ độ đức Phật. 612. Samaṇī samaṇaguttā ca bhikkhunī bhikkhudāsikā, dhammā ceva sudhammā ca sattamī saṅghadāsikā. Samaṇī, Samaṇaguttā, Bhikkhunī, Bhikkhudāsikā, Dhammā, luôn cả Sudhammā nữa, và Saṅghadāsikā là thứ bảy. 613. Ahaṃ uppalavaṇṇā ca khemā bhaddā ca bhikkhunī, kisāgotamī dhammadinnā visākhā hoti sattamī. Tôi, Uppalavaṇṇā, Khemā, Bhikkhunī hiền thục, Kisāgotamī, Dhammadinnā, và Visākhā là thứ bảy (vào thời hiện tại). 614. Tehi kammehi sukatehi cetanāpaṇidhīhi ca, jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsaṃ agacchahaṃ. Do các nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi. 615. Pacchime ca bhavedāni jātā seṭṭhikule ahaṃ, sāvatthiyaṃ puravare iddhe phīte mahaddhane. Và trong kiếp sống cuối cùng hiện nay, tôi đã được sanh vào gia đình triệu phú sung túc, thịnh vượng, có tài sản lớn lao ở trong kinh thành Sāvatthī. 616. Yadā ca yobbanūpetā vitakkavasagā ahaṃ, naraṃ jānapadaṃ disvā tena saddhiṃ agacch’ ahaṃ. Và khi đã đạt đến tuổi trưởng thành, bị tác động của sự suy tầm, sau khi gặp người đàn ông quê mùa tôi đã bỏ đi cùng với người ấy. 617. Ekaputtappasūtā ’haṃ dutiyo kucchiyaṃ mama, tadā ’haṃ mātāpitaro dakkhāmīti sunicchitā. Tôi đã sanh ra một người con trai, đứa thứ nhì còn ở trong bụng của tôi. Khi ấy, tôi đã ước muốn mãnh liệt rằng: “Tôi sẽ gặp lại cha mẹ.” 618. Na rocesi pati mayhaṃ tadā tamhi pavāsite, ekikā niggatā gehā gantuṃ sāvatthimuttamaṃ. Người chồng của tôi đã không bằng lòng. Khi ấy, trong lúc người ấy đi vắng, mỗi một mình tôi đã rời khỏi ngôi nhà để đi đến kinh thành Sāvatthī. 619. Tato me sāmi āgantvā sambhāvesi pathe mamaṃ, tadā me kammajā vātā uppannā atidāruṇā. Sau đó, người chồng của tôi đã đi đến và đã gặp tôi ở trên đường lộ. Khi ấy, có cơn gió vô cùng khủng khiếp sanh lên do nghiệp của tôi đã ào tới. 620. Uṭṭhito ca mahāmegho pasūtisamaye mama, dabbatthāya tadā gantvā sāmi sappena mārito. Và có trận mưa lớn đã xuất hiện vào lúc lâm bồn của tôi. Khi ấy, người chồng đã đi vì mục đích củi gỗ (để sưởi ấm) và đã bị chết bởi con rắn. 621. Tadā vijātadukkhena anāthā kapaṇā ahaṃ, kunnadiṃ pūritaṃ disvā gacchantī sakulālayaṃ. Khi ấy, do đau đớn vì đã sanh đẻ, không người bảo hộ, tôi đã trở nên khốn khổ. Trong khi đi đến chỗ trú ngụ của gia đình, tôi đã nhìn thấy con sông cạn bị tràn ngập. 622. Bālaṃ ādāya atariṃ parakūle ca ekakaṃ, sāyetvā bālakaṃ puttaṃ itaraṃ tāraṇāy’ ahaṃ. Sau khi ẳm lấy đứa bé tôi đã lội qua, và có mỗi một đứa ở bờ bên kia. Tôi đã đặt đứa con trai thơ dại nằm xuống vì việc mang đứa kia sang. 623. Nivattā ukkuso ’hāsi taruṇaṃ vilapantakaṃ, itarañca vahī soto sāhaṃ sokasamappitā. Tôi đã quay trở lại. Có con chim ưng đã tha đi đứa nhỏ đang kêu khóc và dòng nước đã cuốn trôi đứa kia; tôi đây đã bị xâm chiếm bởi sầu muộn. 624. Sāvathīnagaraṃ gantvā assosiṃ sajane mate, tadā avocaṃ sokaṭṭā mahāsokasamappitā. Sau khi đi đến thành Sāvatthī, tôi đã nghe rằng những người thân đã chết. Khi ấy, bị dằn vặt bởi sầu muộn, bị xâm chiếm bởi nỗi sầu muộn lớn lao, tôi đã nói rằng: 625. “Ubho puttā kālakatā panthe mayhaṃ pati mato, mātā pitā ca bhātā ca ekacitakasmiṃ ḍayhare.” “Cả hai người con trai đã lìa đời, chồng của tôi đã bị chết ở trên đường, mẹ cha và người em trai đã được thiêu chung ở một giàn hỏa táng.” 626. Tadā kisā ca paṇḍu ca anāthā dīnamānasā, ito tato bhamantīhaṃ addasaṃ narasārathiṃ. Khi ấy, trở nên ốm yếu, vàng vọt, không người bảo hộ, tâm ý thê lương, trong lúc đi quanh quẩn đó đây tôi đã nhìn thấy đấng Điều Ngự Trượng Phu. 627. Tato avoca maṃ satthā “putte mā soci assasa, attānaṃ tvaṃ gavesassu kiṃ niratthaṃ vihaññasi. Sau đó, bậc Đạo Sư đã nói với tôi rằng: “Này con gái, chớ khóc than, hãy bình tâm. Con hãy tìm kiếm lại chính mình. Sao con lại buồn đau một cách vô ích? 628. Na santi puttā tāṇāya na pitā napi bandhavā, antakenādhipannassa natthi ñātīsu tāṇatā.” Không có những người con trai, không có người cha, cũng không có những người thân trong việc bảo vệ. Đối với người đã bị khuất phục bởi sự chết, sự bảo vệ ở những người thân là không có.”[13] 629. Taṃ sutvā munino vākyaṃ paṭhamaṃ phalamajjhagaṃ, pabbajitvāna na ciraṃ arahattamapāpuṇiṃ. Sau khi lắng nghe lời nói ấy của bậc Hiền Triết, tôi đã chứng đạt quả vị thứ nhất. Sau khi xuất gia không lâu, tôi đã thành tựu quả vị A-la-hán. 630. Iddhīsu ca vasī homi dibbāya sotadhātuyā, paracittāni jānāmi satthusāsanakārikā. Là người thực hành theo lời dạy của đấng Đạo Sư, tôi có năng lực về các thần thông, về thiên nhĩ giới, tôi biết được tâm của người khác. 631. Pubbe nivāsaṃ jānāmi dibbacakkhu visodhitaṃ, khepetvā āsave sabbe visuddhāmhi sanimmalā. Tôi biết được đời sống trước đây, thiên nhãn được thanh tịnh, sau khi quăng bỏ tất cả các lậu hoặc, tôi được thanh tịnh, với sự không uế nhiễm. 632. Tato ’haṃ vinayaṃ sabbaṃ santike sabbadassino, uggaṇhiṃ sabbavitthāraṃ vyāhariṃ ca yathātathaṃ. Sau đó, trong sự hiện diện của đấng Toàn Tri, tôi đã học toàn bộ về Luật cùng tất cả phần chi tiết và đã trình bày đúng theo như thế. 633. Jino tasmiṃ guṇe tuṭṭho etadagge ṭhapesi maṃ, “Aggā vinayadhārīnaṃ paṭācārāva ekikā.” Hoan hỷ về đức hạnh ấy, đấng Chiến Thắng đã thiết lập tôi vào vị thế tối thắng rằng: “Chỉ mỗi một mình Paṭācārā là đứng đầu trong số các vị ni thông suốt về Luật.” 634. Pariciṇṇo mayā satthā kataṃ buddhassa sāsanaṃ, ohito garuko bhāro bhavanetti samūhatā. Bậc Đạo Sư đã được tôi phục vụ, lời dạy của đức Phật đã được tôi thực hành, nhiệm vụ nặng nề đã được đặt xuống, lối dẫn đi tái sanh đã được xóa tan. 635. Yassatthāya pabbajitā agārasmā ’nagāriyaṃ, so me attho anuppatto sabbasaṃyojanakkhayo. Vì mục đích nào tôi đã rời khỏi gia đình xuất gia vào cuộc sống không gia đình, mục đích ấy tức là sự đoạn tận tất cả các sự trói buộc đã được tôi đạt đến. 636. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā, nāgīva bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavā. Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc. 637. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike, tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ. Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng. 638. Paṭisambhidā catasso vimokkhāpi ca aṭṭhime, chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ. Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật. Itthaṃ sudaṃ Paṭācārā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti. Tỳ khưu ni Paṭācārā đã nói lên những lời kệ này như thế ấy. Paṭācārātheriyāpadānaṃ dasamaṃ. Ký sự về trưởng lão ni Paṭācārā là phần thứ mười. | ||||