93 Đại Đệ Tử Đức Phật

Khemā ←→ Paṭācārā

Uppalavaṇṇā

19. Uppalavaṇṇāpadānaṃ
19. Ký Sự về Uppalavaṇṇā:
511. Bhikkhunī uppalavaṇṇā iddhiyā pāramiṅgatā,
vanditvā satthuno pāde idaṃ vacanamabravi.
Tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā, đạt đến sự toàn hảo về thần thông, đã đảnh lễ ở bàn chân của bậc Đạo Sư rồi đã nói lời nói này:
512. Nittiṇṇā jātisaṃsāraṃ pattā ’haṃ acalaṃ padaṃ,
sabbadukkhaṃ mayā khīṇaṃ ārocemi mahāmuni.
“Bạch đấng Đại Hiền Triết, con xin trình rằng con đã vượt qua khỏi sự tái sanh luân hồi, đã đạt được vị thế bất động, con đã cạn kiệt tất cả khổ đau.
513. Yāvatā parisā atthi pasannā jinasāsane,
yesañca me ’parādho ’tthi khamantu jinasammukhā.
Cho đến nhóm người có lòng tịnh tín vào Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, và đối với những ai con có lỗi lầm, mong rằng họ hãy tha thứ ở trước mặt đấng Chiến Thắng.
514. Saṃsāre saṃsarantāya khalitaṃ me sace bhave,
ārocemi mahāvīra aparādhaṃ khamassu taṃ.
Bạch đấng Đại Hùng, con xin trình rằng trong khi luân chuyển ở vòng luân hồi nếu con có điều lầm lỗi, xin Ngài tha thứ cho điều sai trái ấy.”
515. “Iddhiṃ cāpi nidassehi mama sāsanakārike,
catasso parisā ajja kaṅkhaṃ chindāhi yāvatā.”
“Nàng cũng nên phô bày thần thông cho những người hành theo Giáo Pháp của Ta được thấy. Hôm nay nàng hãy cắt đứt sự hoài nghi cho cả tứ chúng.”
516. “Dhītu tuyhaṃ mahāvīra paññāvanta jutindhara,
bahuṃ ca dukkaraṃ kammaṃ kataṃ me atidukkaraṃ.
“Bạch đấng Đại Hùng, bậc Trí Tuệ, đấng Quang Minh, là con gái của Ngài, con đã làm được nhiều công việc khó làm và vô cùng khó làm.
517. Uppalasseva me vaṇṇo nāmenuppalanāmikā,
sāvikā te mahāvīra pāde vandati cakkhuma.
Màu da của con chính là màu của hoa sen, tên gọi Uppala là theo tên gọi của hoa sen. Bạch đấng Đại Hùng, con là nữ Thinh Văn của Ngài. Bạch đấng Hữu Nhãn, con xin đảnh lễ ở bàn chân (của Ngài).
518. Rāhulo ca ahañceva nekajātisate bahū,
ekasmiṃ sambhave jātā samānacchandamānasā.
Trong nhiều trăm lần tái sanh, Rāhula và luôn cả con nữa đã được sanh ra trong cùng một kiếp sống do ý muốn tương tợ nhau.
519. Nibbatti ekato hoti jātīsu bahuso mama,
pacchimabhave sampatte ubhopi nānāsambhavā.
Có sự sanh ra cùng nhau trong nhiều lần tái sanh của con. Trong kiếp sống cuối cùng được thành tựu, cả hai còn có nhiều nguyên nhân khác nữa.
520. Putto ca rāhulo nāma dhītā uppalasavhayā,
passa vīra mamaṃ iddhiṃ balaṃ dassemi satthuno.”
Và người con trai tên là Rāhula, người con gái tên gọi Uppala. Bạch đấng Anh Hùng, xin hãy nhìn xem thần thông của con, con sẽ thị hiện năng lực đến bậc Đạo Sư.”
521. Mahāsamudde caturo pakkhipi hatthapātiyaṃ,
telaṃ hatthagataṃ ceva vejjo komārako yathā.
Vị ni đã đặt bốn đại dương ở trong lòng bàn tay tương tợ như vị y sĩ Jīvaka Komārabhacca đã đổ dầu vào bàn tay.
522. Ubbattayitvā paṭhaviṃ pakkhipi hatthapātiyaṃ,
cittamuñjaṃ yathā nāma luñci komārako yuvā.
Vị ni đã bứng trái đất lên rồi đặt ở trong lòng bàn tay tương tợ như người thiếu niên trẻ tuổi đã nhổ lên cọng cỏ muñja nhiều màu sắc.
523. Cakkavāḷasamaṃ pāṇiṃ chādayitvāna matthake,
vassāpetvāna phusitaṃ nānāvaṇṇaṃ punappunaṃ.
Vị ni đã đưa bàn tay tợ như vũ trụ che ở đầu và đã làm đổ xuống giọt mưa nhiều màu sắc thành nhiều lượt.
524. Bhūmiṃ udukkhalaṃ katvā dhaññaṃ katvāna sakkharaṃ,
sineruṃ musalaṃ katvā maddi komārikā yathā.
Vị ni đã biến mặt đất thành cái cối giã, đã biến hạt cát thành thóc lúa, đã biến ngọn núi Sineru thành cái chày, rồi đã giã nát tương tợ như cô thiếu nữ (giã lúa gạo).
525. “Dhītā ’haṃ buddhaseṭṭhassa nāmenuppalasavhayā,
abhiññāsu vasībhūtā tava sāsanakārikā.
“Con là con gái của đức Phật tối thượng có tên gọi là Uppala, đã có được năng lực về các thắng trí, là người thực hành theo lời dạy của Ngài.
526. Nānā vikubbaṇaṃ katvā dassetvā lokanāyakaṃ,
nāmagottañca sāvetvā pāde vandāmi cakkhuma.
Bạch đấng Hữu Nhãn, sau khi đã thực hiện và đã phô bày vô số phép biến hóa đến vị Lãnh Đạo Thế Gian, sau khi công bố tên và dòng họ, con xin đảnh lễ ở bàn chân (của Ngài).
527. Iddhiyā ca vasī homi dibbāya sotadhātuyā,
cetopariyañāṇassa vasī homi mahāmune.
Bạch đấng Đại Hiền Triết, con đã có năng lực về thần thông, về thiên nhĩ giới, và đã có năng lực về trí biết tâm của người khác.
528. Pubbe nivāsaṃ jānāmi dibbacakkhu visodhitaṃ,
sabbāsavā parikkhīṇā natthidāni punabbhavo.
Con biết được đời sống trước đây, thiên nhãn được thanh tịnh, tất cả các lậu hoặc được cạn kiệt, giờ đây không còn tái sanh nữa.
529. Atthadhammaniruttīsu paṭibhāne tatheva ca,
ñāṇaṃ me vimalaṃ suddhaṃ pabhāvena mahesino.
Trí tuệ của con về ý nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và tương tợ y như thế về phép biện giải là được trong sạch, không bợn nhơ nhờ vào quyền năng của bậc Đại Ẩn Sĩ.
530. Purimānaṃ jinaggānaṃ sammukhā ca parammukhā,
adhikāraṃ bahuṃ mayhaṃ tuyhatthāya mahāmuni.
Bạch đấng Đại Hiền Triết, nhiều việc làm hướng thượng của con đến các đấng Chiến Thắng cao cả trong quá khứ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp là nhằm mục đích về Ngài.
531. Yaṃ mayā pūritaṃ kammaṃ kusalaṃ sara me muni,
tavatthāya mahāvīra puññaṃ upacitaṃ mayā.
Bạch đấng Hiền Triết, thiện nghiệp nào đã được con làm tròn đủ, xin Ngài hãy nhớ lại cho con. Bạch đấng Đại Hùng, phước báu đã được tích lũy bởi con là nhằm mục đích về Ngài.
532. Abhabbaṭṭhāne vajjetvā parivajjentī anācāraṃ,
tavatthāya mahāvīra cattaṃ jīvitamuttamaṃ.
Bạch đấng Đại Hùng, sau khi tránh xa những nơi không xứng đáng, trong khi từ bỏ tánh hạnh xấu, mạng sống quý cao đã được từ bỏ là nhằm mục đích về Ngài.
533. Dasakoṭisahassāni adāsiṃ mama jīvitaṃ,
pariccattaṃ ca me hoti tavatthāya mahāmuni.”
Bạch đấng Đại Hiền Triết, con đã bố thí mười ngàn koṭi, và mạng sống của con đã được con dứt bỏ là nhằm mục đích về Ngài.”
534. Tadātivimhitā sabbā sirasāva katañjalī,
avoc’ ayye kathaṃ āsi atuliddhiparakkamā.
Khi ấy, vô cùng sửng sốt, tất cả đã chắp tay lên ngay ở đầu và đã nói rằng: “Thưa ni sư, làm thế nào ni sư có được sự nỗ lực về thần thông không thể sánh bằng?”
535. Satasahasse ito kappe nāgakaññā ahuṃ tadā,
vimalā namā nāmena kaññānaṃ sādhusammatā.
Trước đây một trăm ngàn kiếp, khi ấy tôi đã là con gái của Long Vương, có tên Vimalā, được công nhận là đức hạnh trong số những người con gái.
536. Mahorago mahānāgo pasanno jinasāsane,
padumuttaraṃ mahātejaṃ nimantesi sasāvakaṃ.
Có con rắn lớn là vị Đại Long, tịnh tín với Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, đã thỉnh mời đấng Đại Quyền Lực Padumuttara cùng với các vị Thinh Văn.
537. Ratanāmayaṃ maṇḍapañca pallaṅkaṃ ratanāmayaṃ,
ratanavālukākiṇṇaṃ upabhogaṃ ratanāmayaṃ.
(Vị ấy đã cho chuẩn bị) mái che làm bằng châu báu, ghế dựa làm bằng châu báu, và vật dụng làm bằng châu báu được rắc rải các hạt cát châu báu.
538. Maggaṃ ca paṭiyādesi ratanaddhajabhūsitaṃ,
paccuggantvāna sambuddhaṃ vajjanto turiyehi so.
Và vị ấy đã cho chuẩn bị đường đi được trang hoàng với các ngọn cờ bằng châu báu. Trong khi được vang lên bởi các nhạc cụ, vị ấy đã đi ra đón rước bậc Toàn Giác.
539. Parisāhi catūhi sahito lokanāyako,
mahoragassa bhavane nisīdi paramāsane.
Được tháp tùng bởi tứ chúng, đấng Lãnh Đạo Thế Gian đã ngồi xuống ở chỗ ngồi cao nhất trong tòa nhà của vị Đại Long.
540. Annaṃ pānaṃ khādanīyaṃ bhojanīyaṃ mahārahaṃ,
varaṃ varañca pādāsi nāgarājā mahāyaso.
Vị Long Vương có danh tiếng vĩ đại đã dâng lên thức ăn nước uống vật thực cứng, vật thực mềm có giá trị lớn lao vô cùng quý báu.
541. Bhuñjitvāna sambuddho pattaṃ dhoviya yoniso,
anumodanīyaṃ ’kāsi nāgarañño mahiddhino.
Sau khi thọ thực, đấng Toàn Giác đã rửa bình bát theo khuôn phép rồi đã nói lời tùy hỷ đến vị Long Vương có đại thần lực.
542. Sabbaññuṃ phullitaṃ disvā nāgakaññā mahāyasā,
pasannā satthuno cittaṃ sunibaddhañca mānasaṃ.
Sau khi nhìn thấy đấng Toàn Tri một cách trọn vẹn, người con gái có danh vọng lớn lao của vị Long Vương đã được tịnh tín đối với bậc Đạo Sư, và tâm đã được gắn liền chặt chẽ với ý.
543. Mamañca cittamaññāya jalajuttamanāyako,
tasmiṃ khaṇe mahāvīro bhikkhuniṃ dassayiddhiyā.
Và sau khi biết được tâm của tôi, bậc Đại Hùng, đấng Lãnh Đạo Padumuttara vào giây phút ấy đã bảo vị tỳ khưu ni thị hiện thần thông.
544. Iddhī anekā dassesi bhikkhunī sā visāradā,
pamoditā vedajātā satthāraṃ idamabraviṃ:
Được tự tin, vị tỳ khưu ni ấy đã thị hiện nhiều loại thần thông. Được hoan hỷ, tràn đầy niềm phấn khởi, tôi đã nói với bậc Đạo Sư điều này:
545. “Addasāhaṃ imaṃ iddhiṃ sumanāyitarāyapi,
Kathaṃ ahosi sā vīra iddhiyā suvisāradā?”
“Bạch đấng Anh Hùng, con đã nhìn thấy loại thần thông này thậm chí với tâm vui mừng khác. Làm thế nào nàng ấy đã được vô cùng tự tin về thần thông?”
546. “Orasā mukhato jātā dhītā mama mahiddhikā,
mamānusāsanikarā iddhiyā suvisāradā.”
“Người con gái có đại thần lực của Ta là chánh thống, được sanh ra từ miệng, là người thực hành theo Giáo Pháp của Ta, vô cùng tự tin về thần thông.”
547. Buddhassa vacanaṃ sutvā evaṃ patthesahaṃ tadā,
“Ahampi tādisā homi iddhiyā suvisāradā.”
Sau khi lắng nghe lời nói của đức Phật, khi ấy tôi đã ước nguyện như vầy: “Mong sao cho ta cũng được vô cùng tự tin về thần thông như thế ấy.”
548. Pamoditā ’haṃ sumanā patta-uttamamānasā,
anāgatamhi addhāne īdisā homi nāyaka.
Được hoan hỷ, với tâm vui mừng, tôi đã đạt đến ý nghĩ cao quý rằng: “Bạch đấng Lãnh Đạo, mong sao trong tương lai xa vời con sẽ là như thế ấy.”
549. Maṇimayamhi pallaṅke maṇḍapasmiṃ pabhaṅkare,
annapānena tappetvā sasaṅghaṃ lokanāyakaṃ.
Ở chiếc ghế dựa làm bằng ngọc ma-ni tại mái che sáng ngời, tôi đã làm hài lòng đấng Lãnh Đạo Thế Gian cùng với hội chúng bằng cơm ăn và nước uống.
550. Nāgānaṃ pavaraṃ pupphaṃ aruṇaṃ nāma uppalaṃ,
“Vaṇṇaṃ me īdisaṃ hotu” pūjesiṃ lokanāyakaṃ.
Tôi đã cúng dường đấng Lãnh Đạo Thế Gian đóa hoa sen xanh cao quý của loài rồng tên là Aruṇa (nguyện rằng): “Mong sao cho tôi có được màu da như thế này.”
551. Tena kammena sukatena cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsaṃ agacch’ ahaṃ.
Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
552. Tato cutā ’haṃ manuje upapannā sayambhuno,
uppalehi paṭicchannaṃ piṇḍapātamadāsahaṃ.
Từ nơi ấy chết đi, được sanh vào loài người, tôi đã dâng vật thực được đậy lại bằng những đóa sen xanh đến đấng Tự Chủ.
553. Ekanavute ito kappe vipassī nāma nāyako,
uppajji cārunayano sabbadhammesu cakkhumā.
Trước đây chín mươi mốt kiếp, đã hiện khởi đấng Lãnh Đạo tên Vipassī, là vị có ánh mắt thu hút, là bậc Hữu Nhãn về tất cả các pháp.
554. Seṭṭhidhītā tadā hutvā bārāṇasipuruttame,
nimantetvāna sambuddhaṃ sasaṅghaṃ lokanāyakaṃ.
Khi ấy, là con gái của người triệu phú ở kinh thành Bārāṇasī, tôi đã thỉnh mời đấng Toàn Giác vị Lãnh Đạo Thế Gian cùng với hội chúng.
555. Mahādānaṃ daditvāna uppalehi vināyakaṃ,
pūjayitvā cetasāva vaṇṇasobhaṃ apatthayiṃ.
Sau khi cúng dường đại thí và đã dâng những đóa sen xanh đến đấng Hướng Đạo, tôi đã ước nguyện về sự xinh đẹp của làn da chỉ bằng tâm ý.
556. Imasmiṃ bhaddake kappe brahmabandhu mahāyaso,
kassapo nāma gottena uppajji vadataṃ varo.
Ở vào kiếp Bhadda này, trong số các vị đang thuyết giảng đã hiện khởi đấng cao quý tên Kassapa, thuộc dòng dõi, có danh tiếng vĩ đại, là thân quyến của đấng Phạm Thiên.
557. Upaṭṭhāko mahesissa tadā āsi narissaro,
kāsirājā kikī nāma bārāṇasipuruttame.
Khi ấy, có vị quân vương là đức vua xứ Kāsi tên Kikī ở tại kinh thành Bārāṇasī là người hộ độ của bậc Đại Ẩn Sĩ.
558. Tass’ āsiṃ dutiyā dhītā samaṇaguttasavhayā,
dhammaṃ sutvā jinaggassa pabbajjaṃ samarocayiṃ.
Tôi đã là người con gái thứ hai của vị (vua) ấy có tên là Samaṇagutta. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng cao cả, tôi đã xin xuất gia.
559. Anujāni na no tāto agāreva tadā mayaṃ,
vīsaṃ vassasahassāni vicarimha atanditā.
Cha đã không cho phép chúng tôi về việc không gia đình. Khi ấy, dầu chỉ là người tại gia chúng tôi đã đi đó đây trong hai chục ngàn năm, không mệt mỏi.
560. Komāribrahmacariyaṃ rājakaññā sukhedhitā,
buddhupaṭṭhānaniratā muditā sattadhītaro.
Là những người con gái của đức vua được nuôi dưỡng sung sướng về tư cách nghiêm trang của người thiếu nữ. Được hoan hỷ, bảy người con gái đã vui thích trong việc hộ độ đức Phật.
561. Samaṇī samaṇaguttā ca bhikkhunī bhikkhudāsikā,
dhammā ceva sudhammā ca sattamī saṅghadāsikā.
Samaṇī, Samaṇaguttā, Bhikkhunī, Bhikkhudāsikā, Dhammā, luôn cả Sudhammā nữa, và Saṅghadāsikā là thứ bảy.
562. Ahaṃ khemā ca sappaññā paṭācārā ca kuṇḍalā,
kisāgotamī dhammadinnā visākhā hoti sattamī.
Tôi, Khemā có trí tuệ, Paṭācārā, Kuṇḍalā, Kisāgotamī, Dhammadinnā, và Visākhā là thứ bảy (vào thời hiện tại).
563. Tehi kammehi sukatehi cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsaṃ agacchahaṃ.
Do các nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
564. Tato cutā manussesu upapannā mahākule,
pītamaṭṭhaṃ varaṃ dussaṃ adaṃ arahato ahaṃ.
Từ nơi ấy chết đi, được sanh vào giữa loài người, trong đại gia tộc, tôi đã dâng đến vị A-la-hán tấm vải màu vàng mịn màng quý giá.
565. Tato cut’ āriṭṭhapure jātā vippakule ahaṃ,
dhītā tiriṭavacchassa ummādantī manoharā.
Từ nơi ấy chết đi, tôi đã được sanh vào gia tộc dòng Bà-la-môn ở trong thành Ariṭṭha, là con gái của Tiriṭavaccha, có nét quyến rũ, tên là Ummādantī.
566. Tato cutā janapade kule aññatare ahaṃ,
pasutā nātiphītamhi sāliṃ gopemahaṃ tadā.
Từ nơi ấy chết đi, được sanh ra vào gia tộc khác không được giàu có lắm ở trong quốc độ, khi ấy tôi đã chăm sóc lúa sāli.
567. Disvā paccekasambuddhaṃ pañcalājāsatān’ ahaṃ,
datvā padumachannāni pañcaputtasatānipi.
Sau khi nhìn thấy vị Độc Giác Phật, tôi đã dâng năm trăm hạt cốm được che đậy bởi những đóa hoa sen (và đã ước nguyện) năm trăm người con trai.
568. Patthesiṃ tepi patthesuṃ madhuṃ datvā sayambhuno,
tato cutā araññe ’haṃ ajāyiṃ padumodare.
Sau khi dâng cúng mật ong đến đấng Tự Chủ, tôi đã ước nguyện về những người con trai ấy.[11] Từ nơi ấy chết đi, tôi đã được sanh ra ở trong lòng đóa hoa sen ở trong rừng.
569. Kāsirañño mahesī ’haṃ hutvā sakkatapūjitā,
ajaniṃ rājaputtānaṃ anūnaṃ satapañcakaṃ.
Tôi đã trở thành chánh hậu của đức vua xứ Kāsi, được tôn vinh kính trọng. Tôi đã sanh ra năm trăm vị hoàng tử không thiếu (một vị).
570. Yadā te yobbanappattā kīḷantā jalakīḷitaṃ,
disvā opattapadumaṃ āsuṃ paccekanāyakā.
Khi các người con trai ấy đạt được tuổi thanh niên, trong lúc chơi giỡn cuộc vui ở trong nước, sau khi nhìn thấy đóa hoa sen bị rụng cánh, họ đã trở thành các vị Lãnh Đạo Độc Giác.
571. Sāhaṃ tehi vinābhūtā sutavarehi sokinī,
cutā isigilipasse gāmakamhi ajāyisaṃ.
Tôi đây, không có những người con trai cao quý ấy, có sự sầu muộn, chết đi, tôi đã được sanh ra ở ngôi làng nhỏ tại sườn núi Isigili.
572. Yadā cuddhā sutamatī sutānaṃ bhattunopi ca,
yāgumādāya gacchantī aṭṭhapaccekanāyake.
573. Bhikkhāya gāmaṃ gacchante disvā putte anussariṃ,
khīradhārā viniggacchi tadā me puttapemasā.
Khi ấy, tôi đã lớn lên, có con cái. Và tôi đã mang món cháo cho những người con trai và cả người chồng nữa. Trong khi đi tôi đã nhìn thấy tám vị Lãnh Đạo Độc Giác đang đi vào làng để khất thực, và đã tưởng nhớ lại những người con trai. Khi ấy, bầu sữa tôi đã tiết ra ngoài bởi lòng thương yêu những người con trai của tôi.
574. Tato tesaṃ adaṃ yāguṃ pasannā sehi pāṇihi,
tato cutā ’haṃ tidase nandanaṃ upapajjahaṃ.
Sau đó, được tịnh tín tôi đã dâng món cháo đến các vị ấy bằng hai bàn tay của mình. Từ nơi ấy chết đi, tôi đã đạt đến vườn hoa Nandana ở cõi Tam Thập.
575. Anubhotvā sukhaṃ dukkhaṃ saṃsaritvā bhavābhave,
tavatthāya mahāvīra pariccattañca jīvitaṃ.
“Bạch đấng Đại Hùng, con đã trải qua an lạc khổ đau, đã luân hồi cõi này cõi khác, và mạng sống đã được dứt bỏ là nhằm mục đích về Ngài.”
576. Evaṃ bahuvidhaṃ dukkhaṃ sampatti ca bahubbidhā,
pacchime bhave sampatte jātā sāvatthiyaṃ pure.
Như vậy là đã có khổ đau nhiều loại và đã có sự thành đạt nhiều cách. Khi đạt đến cuộc sống cuối cùng, tôi đã được sanh ra ở thành Sāvatthī.
577. Mahādhane seṭṭhikule sukhite sajjite tathā,
nānāratanapajjote sabbakāmasamiddhinī.
Tôi đã có được sự thành tựu về tất cả các dục lạc ở trong gia đình triệu phú có đại tài sản, được rực rỡ bởi nhiều loại châu báu khác nhau, được an vui, được chu cấp như thế ấy.
578. Sakkatā pūjitā āsiṃ mānitā ’pacitā tathā,
rūpasobhaggasampannā kulesu abhisammatā.
Tôi đã được kính trọng, được tôn vinh, được nể vì, được cung kỉnh như thế ấy, được phú cho vẻ xinh đẹp của dáng vóc, được trọng vọng ở các gia đình.
579. Atīva patthitā c’ āsiṃ rūpabhogasirīhi ca,
patthitā seṭṭhiputtehi anekehi satehi ca.
Và tôi đã được ao ước vô cùng mãnh liệt bởi những người có sắc tướng, giàu có, sang trọng, và được ao ước bởi hàng trăm người con trai triệu phú.
580. Agāraṃ pajahitvāna pabbajiṃ anagāriyaṃ,
aḍḍhamāse asampatte arahattamapāpuṇiṃ.
Sau khi từ bỏ gia đình, tôi đã xuất gia vào cuộc sống không gia đình, không đầy nửa tháng tôi đã đạt được quả vị A-la-hán.
581. Iddhiyā abhinimmitvā caturassarathaṃ ahaṃ,
buddhassa pāde vandissaṃ lokanāthassa sirīmato.
Sau khi đã hóa hiện bằng thần thông thành chiếc xe bốn ngựa, tôi đã đảnh lễ ở bàn chân của đức Phật, bậc Bảo Hộ Thế Gian, đấng Quang Vinh.
582. Supupphitaggaṃ upagamma bhikkhunī
ekā tuvaṃ tiṭṭhasi sālamūle,
na c’ atthi te dutiyā vaṇṇadhātu
bāle na tvaṃ bhāyasi dhuttakānaṃ.
“Hỡi vị tỳ khưu ni, sau khi đi đến tột đỉnh của việc đã được phát triển toàn diện, nàng một mình đứng ở gốc cây Sāla. Và này người có phẩm chất về sắc đẹp, nàng không có người thứ nhì, nàng không hãi sợ lũ ngu dốt trong số những kẻ tồi bại hay sao?”[12]
583. Sataṃ sahassānapi dhuttakānaṃ idhāgatā tādisakā bhaveyyuṃ,
lomaṃ na iñjāmi na santasāmi na māra bhāyāmi tamekikāpi.
“Cho dầu là trăm ngàn kẻ tồi bại như ngươi có đi đến nơi đây, ta cũng không chao động sợi lông, ta cũng không bối rối. Này Ma Vương, ngươi chỉ một mình, ta không hãi sợ ngươi.”
584. Esā antaradhāyāmi kucchiṃ vā pavisāmi te,
pakhumantarikāyampi tiṭṭhantiṃ maṃ na dakkhasi.
“Hỡi nàng, ta sẽ biến mất hoặc ta sẽ đi vào trong bụng của nàng. Dẫu ta đang đứng ở ngay giữa lông mày, nàng vẫn không nhìn thấy ta.”
585. Cittasmiṃ vasībhūtamhi iddhipādā subhāvitā,
sabbabandhanamuttāmhi na taṃ bhāyāmi āvuso.
“Các nền tảng của thần thông đã được khéo tu tập ở trong tâm có được năng lực. Này ông bạn, ta đã được thoát khỏi mọi sự trói buộc, ta không sợ hãi ngươi.”
586. Sattisūlūpamā kāmā khandhā’saṃ adhikuṭṭanā,
yaṃ tvaṃ kāmaratiṃ brūsi aratī ’dāni sā mama.
“Các dục như là gươm giáo, các uẩn như là cái thớt. Điều ngươi đã gọi là sự thích thú trong các dục, sự không thích thú ấy giờ đây ta đã có được.”
587. Sabbattha vihatā nandi tamokhandho padāḷito,
evaṃ jānāhi pāpima nihato tvamasi antaka.
“Sự vui thích đã được phá hủy ở tất cả các nơi. Khối đống mê mờ đã được phá tan. Này Ác Nhân, ngươi hãy biết như thế. Này Tử Thần, người đã bị bại trận.”
588. Jino tamhi guṇe tuṭṭho etadagge ṭhapesi maṃ,
aggā iddhimatīnan’ti parisāsu vināyako.
Hoan hỷ về đức hạnh ấy, đấng Chiến Thắng, bậc Lãnh Đạo, ở giữa các chúng đã thiết lập tôi vào vị thế tối thắng là “Vị đứng đầu trong số các vị ni có thần thông.”
589. Pariciṇṇo mayā satthā kataṃ buddhassa sāsanaṃ,
ohito garuko bhāro bhavanetti samūhatā.
Bậc Đạo Sư đã được tôi phục vụ, lời dạy của đức Phật đã được tôi thực hành, nhiệm vụ nặng nề đã được đặt xuống, lối dẫn đi tái sanh đã được xóa tan.
590. Yassatthāya pabbajitā agārasmā ’nagāriyaṃ,
so me attho anuppatto sabbasaṃyojanakkhayo.
Vì mục đích nào tôi đã rời khỏi gia đình xuất gia vào cuộc sống không gia đình, mục đích ấy tức là sự đoạn tận tất cả các sự trói buộc đã được tôi đạt đến.
591. Cīvaraṃ piṇḍapātaṃ ca paccayaṃ sayanāsanaṃ,
khaṇena upanāmenti sahassāni samantato.
Trong phút chốc, hàng ngàn người từ các nơi dâng lên y phục, đồ ăn khất thực, thuốc men, và chỗ nằm ngồi.
592. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
nāgīva bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavā.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
593. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
594. Paṭisambhidā catasso vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ Uppalavaṇṇā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Uppalavaṇṇātheriyāpadānaṃ navamaṃ.
Ký sự về trưởng lão ni Uppalavaṇṇā là phần thứ chín.


93 Đại Đệ Tử Đức Phật

©www.vdpzoom.com