So tiếng Việt - Pāli - English

Đọc từng câu riêng || Đọc từng câu trong kinh

Phẩm Gánh Nặng
Việt Pāli
1Phẩm Gánh Nặng Bhārasuttaṃ
2Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về gánh nặng, mang gánh nặng lên, đặt gánh nặng xuống. Hãy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ giảng. ‘‘Bhārañca vo, bhikkhave, desessāmi bhārahārañca bhārādānañca bhāranikkhepanañca. Taṃ suṇātha.
3Này các Tỷ-kheo, thế nào là gánh nặng? Năm thủ uẩn là câu trả lời. Katamo ca, bhikkhave, bhāro? Pañcupādānakkhandhā tissa vacanīyaṃ.
4Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là gánh nặng. Katame pañca? Rūpupādānakkhandho, vedanupādānakkhandho, saññupādānakkhandho, saṅkhārupādānakkhandho, viññāṇupādānakkhandho; ayaṃ vuccati, bhikkhave, bhāro’’.
5Và này các Tỷ-kheo, thế nào là kẻ mang gánh nặng? Người là câu trả lời. ‘‘Katamo ca, bhikkhave, bhārahāro? Puggalo tissa vacanīyaṃ.
6Vị Tôn giả này có tên như thế này, dòng họ như thế này. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là kẻ mang gánh nặng! Yāyaṃ āyasmā evaṃnāmo evaṃgotto; ayaṃ vuccati, bhikkhave, bhārahāro.
7Và này các Tỷ-kheo, thế nào là mang gánh nặng lên? ‘‘Katamañca , bhikkhave, bhārādānaṃ?
8Chính là tham ái này đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, đi tìm hỷ lạc chỗ này, chỗ kia. Yāyaṃ taṇhā ponobhavikā nandīrāgasahagatā tatratatrābhinandinī,
9Tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là mang gánh nặng lên. seyyathidaṃ – kāmataṇhā, bhavataṇhā, vibhavataṇhā. Idaṃ vuccati, bhikkhave, bhārādānaṃ.
10Này các Tỷ-kheo, thế nào là đặt gánh nặng xuống? ‘‘Katamañca, bhikkhave, bhāranikkhepanaṃ?
11Ðây là sự ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn, sự từ bỏ, sự xả ly, sự giải thoát, sự không chấp thủ. Yo tassāyeva taṇhāya asesavirāganirodho cāgo paṭinissaggo mutti anālayo.
12Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đặt gánh nặng xuống. Idaṃ vuccati, bhikkhave, bhāranikkhepana’’nti.
13Thế Tôn thuyết như vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm: Idamavoca bhagavā. Idaṃ vatvāna sugato athāparaṃ etadavoca satthā –
14Năm uẩn là gánh nặng, Kẻ gánh nặng là người; ‘‘Bhārā have pañcakkhandhā, bhārahāro ca puggalo;
15Mang lấy gánh nặng lên, Chính là khổ ở đời. Còn đặt gánh nặng xuống, Tức là lạc, không khổ, Bhārādānaṃ dukhaṃ loke, bhāranikkhepanaṃ sukhaṃ.
16Ðặt gánh nặng xuống xong, Không mang thêm gánh khác. ‘‘Nikkhipitvā garuṃ bhāraṃ, aññaṃ bhāraṃ anādiya;
17Nếu nhổ khát ái lên, Tận cùng đến gốc rễ, Không còn đói và khát, Ðược giải thoát tịnh lạc! Samūlaṃ taṇhamabbuyha, nicchāto parinibbuto’’ti.
18NguồnNguồn

© vdpzoom.com

---