A Tỳ Đàm - Lớp Zoom với Trung
www.tudieu.de

Bộ Ngữ Tông
23 chương

10 đề tàiCác tông phái
  1. Về Đức Phật
  2. Về Các Bậc Thánh
    1. A-La-Hán
    2. Các Tầng Thánh Thấp Hơn
    3. Thánh Đạo
  3. Về Người Phàm Phu
  4. Về Chư Thiên
  5. Về Tăng Bảo
  6. Về Giáo Pháp
  7. Về Cá Nhân
  8. Về Vũ Trụ
  9. Về Vô Vi
  10. Một Số Vấn Đề Khác
  1. Theravādins: Thượng Tọa Bộ
  2. Mahiṃsāsakas: Hóa Địa Bộ, Di Sa Tắc Bộ
  3. Dhammaguttikas: Pháp Tạng Bộ
  4. Sarvatthivādins: Nhất Thiết Hữu Bộ
  5. Kassapikas: Ca Diếp Bộ, Ẩm Quang Bộ
  6. Sankantikas: Thuyết Chuyển Bộ
  7. Suttavādins: Kinh Lượng Bộ
  8. Vajjiputtakas: .Ộc Tử Bộ
  9. Gokulikas: Kê Dận Bộ
  10. Ekabbohārikas: Nhất Thuyết Bộ
  11. Dhammustariyas: Pháp Thượng Bộ
  12. Bhadrayānikas: Hiền Trụ Bộ
  13. Channagarikas: Mật Lâm Sơn Bộ
  14. Sammitiyas: Chánh Lượng Bộ
  15. Pannattivādins: Thi Thiết Bộ
  16. Bahulikas (Bahussutiyas): Đa Văn Bộ
  17. Cetiyavādins: Chế Đa Sơn Bộ
  18. Mahāsanghikas: Đại Chúng Bộ
Bốn bộ phái Andhakas:
  1. Rajagiriyas: Vương Sơn Trú Bộ
  2. Siddatthakas: Nghĩa Thành Bộ
  3. Purvaseliyas: Đông Sơn Trú Bộ
  4. Aparaseliyas: Tây Sơn Trú Bộ
Chánh tạng - Kathāvatthupāḷi

* C01.14: Cật Vấn Thông (Abhiññānuyogo)
* C03.07: Vấn đề Thiên Nhãn (Dibbacakkhukathā)
* C18.09: Vấn Ðề Nhãn Vật Và Cảnh Sắc (Cakkhunārūpampassatītikathā)
* C20.04: Vấn Ðề Bàng Sanh (Tiracchāna kathā)
7. Dibbacakkhukathā Thiên Nhãn Ngữ
373. Maṃsacakkhuṃ dhammupatthaddhaṃ dibbacakkhuṃ hotīti? 795. Tự ngôn: Nhục nhãn (Maṅsacakkhu) đã có pháp hỗ trợ thì thành Thiên nhãn (Dibbacakkhu) phải chăng?
Āmantā. Phản ngữ: Phải rồi.
Maṃsacakkhuṃ dibbacakkhuṃ, dibbacakkhuṃ maṃsacakkhunti? Tự ngôn: Nhục nhãn cũng là Thiên nhãn, Thiên nhãn cũng là Nhục nhãn phải chăng?
Na hevaṃ vattabbe…pe…. Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
Maṃsacakkhuṃ dhammupatthaddhaṃ dibbacakkhuṃ hotīti? 796. Tự ngôn: Nhục nhãn đã có pháp hỗ trợ thời thành Thiên nhãn phải chăng?
Āmantā. Phản ngữ: Phải rồi.
Yādisaṃ maṃsacakkhuṃ tādisaṃ dibbacakkhuṃ, yādisaṃ dibbacakkhuṃ tādisaṃ maṃsacakkhunti? Tự ngôn: Nhục nhãn như thế nào thời Thiên nhãn cũng như thế ấy, Thiên nhãn như thế thì Nhục nhãn cũng như thế ấy phải chăng?
Na hevaṃ vattabbe…pe…. Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
Maṃsacakkhuṃ dhammupatthaddhaṃ dibbacakkhuṃ hotīti? 797. Tự ngôn: Nhục nhãn đã có pháp hỗ trợ thời thành Thiên nhãn phải chăng?
Āmantā. Phản ngữ: Phải rồi.
Taññeva maṃsacakkhuṃ taṃ dibbacakkhuṃ, taṃ dibbacakkhuṃ taṃ maṃsacakkhunti? Tự ngôn: Nhục nhãn cái đó Thiên nhãn cũng cái đó, Thiên nhãn cái đó Nhục nhãn cũng cái đó vậy phải chăng?
Na hevaṃ vattabbe…pe…. Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
Maṃsacakkhuṃ dhammupatthaddhaṃ dibbacakkhuṃ hotīti? 798. Tự ngôn: Nhục nhãn mà pháp đã hỗ trợ thời thành Thiên nhãn phải chăng?
Āmantā. Phản ngữ: Phải rồi.
Yādiso maṃsacakkhussa visayo ānubhāvo gocaro tādiso dibbassa cakkhussa visayo ānubhāvo gocaroti? Tự ngôn: Tánh chất quyền lực cảnh giới (gocara) của Nhục nhãn như thế nào thời tánh chất quyền lực cảnh giới của Thiên nhãn cũng như thế ấy phải chăng?
Na hevaṃ vattabbe…pe…. Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
Maṃsacakkhuṃ dhammupatthaddhaṃ dibbacakkhuṃ hotīti? 799. Tự ngôn: Nhục nhãn mà pháp đã hỗ trợ thành Thiên nhãn phải chăng?
Āmantā. Phản ngữ: Phải rồi.
Upādiṇṇaṃ hutvā anupādiṇṇaṃ hotīti? Tự ngôn: Thành do thủ rồi thành phi do thủ phải chăng?
Na hevaṃ vattabbe…pe…. Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
Upādiṇṇaṃ hutvā anupādiṇṇaṃ hotīti? 800. Tự ngôn: Thành do thủ rồi thành phi do thủ phải chăng?
Āmantā. Phản ngữ: Phải rồi.
Kāmāvacaraṃ hutvā rūpāvacaraṃ hotīti? Tự ngôn: Thành Dục giới rồi thành Sắc giới phải chăng?
Na hevaṃ vattabbe…pe…. Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
Kāmāvacaraṃ hutvā rūpāvacaraṃ hotīti? 801. Tự ngôn: Thành Dục giới rồi thành Sắc giới phải chăng?
Āmantā. Phản ngữ: Phải rồi.
Rūpāvacaraṃ hutvā arūpāvacaraṃ hotīti? Tự ngôn: Thành Sắc giới rồi thành Vô sắc giới phải chăng?
Na hevaṃ vattabbe…pe…. Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
Rūpāvacaraṃ hutvā arūpāvacaraṃ hotīti? 802. Tự ngôn: Thành Sắc giới rồi thành Vô sắc giới phải chăng?
Āmantā. Phản ngữ: Phải rồi.
Pariyāpannaṃ hutvā apariyāpannaṃ hotīti? Tự ngôn: Thành liên quan luân hồi (pariyāpannā) rồi thành bất liên quan luân hồi (apariyāpannā) phải chăng?
Na hevaṃ vattabbe…pe…. Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
374. Maṃsacakkhuṃ dhammupatthaddhaṃ dibbacakkhuṃ hotīti? 803. Tự ngôn: Nhục nhãn mà pháp đã hỗ trợ thời thành Thiên nhãn phải chăng?
Āmantā. Phản ngữ: Phải rồi.
Dibbacakkhuṃ dhammupatthaddhaṃ maṃsacakkhuṃ hotīti? Tự ngôn: Thiên nhãn mà pháp đã hỗ trợ rồi cũng thành Nhục nhãn phải chăng?
Na hevaṃ vattabbe…pe…. Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
Maṃsacakkhuṃ dhammupatthaddhaṃ dibbacakkhuṃ hotīti? 804. Tự ngôn: Nhục nhãn mà pháp đã hỗ trợ rồi thành Thiên nhãn phải chăng?
Āmantā. Phản ngữ: Phải rồi.
Dibbacakkhuṃ dhammupatthaddhaṃ paññācakkhuṃ hotīti? Tự ngôn: Thiên nhãn mà pháp đã hỗ trợ rồi thành Tuệ nhãn phải chăng?
Na hevaṃ vattabbe…pe…. Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
Maṃsacakkhuṃ dhammupatthaddhaṃ dibbacakkhuṃ hotīti? 805. Tự ngôn: Nhục nhãn mà pháp hộ trợ rồi thành Thiên nhãn phải chăng?
Āmantā. Phản ngữ: Phải rồi.
Dibbacakkhuṃ dhammupatthaddhaṃ maṃsacakkhuṃ hotīti? Tự ngôn: Thiên nhãn mà pháp hỗ trợ rồi thành Nhục nhãn phải chăng?
Na hevaṃ vattabbe…pe…. Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
Maṃsacakkhuṃ dhammupatthaddhaṃ dibbacakkhuṃ hotīti? 806. Tự ngôn: Nhục nhãn mà pháp hộ trợ rồi thành Thiên nhãn phải chăng?
Āmantā. Phản ngữ: Phải rồi.
Dveva cakkhūnīti? Tự ngôn: Nhãn chỉ có hai thứ đó phải chăng?
Na hevaṃ vattabbe…pe… Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
dveva cakkhūnīti? 807. Tự ngôn: Nhãn chỉ có hai thứ đó phải chăng?
Āmantā. Phản ngữ: Phải rồi.
Nanu tīṇi cakkhūni vuttāni bhagavatā – maṃsacakkhuṃ, dibbacakkhuṃ, paññācakkhunti? Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Nhãn có ba tức là Nhục nhãn, Thiên nhãn và Tuệ nhãn phải chăng?
Āmantā. Phản ngữ: Phải rồi.
Hañci tīṇi cakkhūni vuttāni bhagavatā – maṃsacakkhuṃ, dibbacakkhuṃ, paññācakkhuṃ, no ca vata re vattabbe – ‘‘dveva cakkhūnī’’ti. Tự ngôn: Nếu mà Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng nhãn có ba tức là Nhục nhãn, Thiên nhãn và Tuệ nhãn thì cũng không nên nói rằng nhãn chỉ có hai thứ đó.
Dveva cakkhūnīti? 808. Tự ngôn: Nhãn chỉ có hai thứ đó phải chăng?
Āmantā. Phản ngữ: Phải rồi.
Nanu vuttaṃ bhagavatā – ‘‘tīṇimāni, bhikkhave, cakkhūni! Katamāni tīṇi? Maṃsacakkhuṃ, dibbacakkhuṃ, paññācakkhunti – imāni kho, bhikkhave, tīṇi cakkhūnī’’ti. Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, nhãn theo đây có ba thứ. Ba thứ đó ra sao? Nhục nhãn, Thiên nhãn,Tuệ nhãn; nhãn có ba thứ như đây vậy.
‘‘Maṃsacakkhuṃ dibbacakkhuṃ, paññācakkhuṃ anuttaraṃ; Etāni tīṇi cakkhūni, akkhāsi purisuttamo. ‘‘Maṃsacakkhussa uppādo, maggo dibbassa cakkhuno; Yadā ca ñāṇaṃ udapādi, paññācakkhuṃ anuttaraṃ; Tassa cakkhussa paṭilābhā, sabbadukkhā pamuccatī’’ti. Attheva suttantoti? Tự ngôn: Đức Phật - bực Thượng Thiện (Purisuttama)- có phán: “Nhãn đây có ba tức là Nhục nhãn, Thiên nhãn và Tuệ nhãn đã sắp chót vót, sự phát sanh của Nhục nhãn thành nẻo của Thiên nhãn thời khi nào trí tức là Tuệ nhãn chót vót đã phát sanh lên thì khi ấy vẫn vượt khỏi tất cả khổ do cách đặng nhãn ấy”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng?
Āmantā. Phản ngữ: Phải rồi.
Tena hi na vattabbaṃ – ‘‘dveva cakkhūnī’’ti. Tự ngôn: Nếu thế đó không nên nói nhãn chỉ có hai thứ đó.
Dibbacakkhukathā niṭṭhitā.Dứt Thiên nhãn ngữ

Chương 03 - 07: Vấn đề Thiên Nhãn (Dibbacakkhukathā)

Vấn đề Thiên Nhãn (Dibbacakkhukathā)

[Xem thêm bài Lộ Hiện Thông]



Ðiểm tranh luận: Nhục nhãn khi có pháp hỗ trợ (Dhammupatthaddam), trở thành Thiên nhãn (Pháp hỗ trợ là tứ thiền).
Theo chú giải: Quan niệm này cũng của phái Andhakas và Sammitiyas.

(1) Th: - Nếu Ngài quan niệm như vậy, Ngài cũng phải chấp nhận Nhục Nhãn là Thiên Nhãn, và ngược lại, Thiên Nhãn cũng là Nhục Nhãn, cả hai cùng một thứ, được chế định cùng một loại, có cùng một tính chất, quyền lực và cảnh giới cũng giống nhau. Nhưng Ngài từ chối điều này.

(2) Lại nữa, nếu Ngài cho cả hai là một, ngang nhau, bằng nhau, thì Ngài cũng phải chấp nhận pháp thủ (hậu quả của tiền nghiệp) cũng trở thành pháp phi thủ, pháp dục giới cũng trở thành pháp sắc giới và tương tự, pháp sắc giới cũng trở thành pháp vô sắc giới, pháp liên quan liên hồi cũng thành pháp bất liên quan luân hồi. Ðiều này thật vô lý.

(3) Hơn nữa, với quan điểm Ngài đưa ra, Ngài cũng phải chấp nhận rằng Thiên Nhãn với sự hỗ trợ của pháp dục giới (trong Thiền) trở thành Nhục Nhãn, và khi có sự hỗ trợ của Tuệ thì Nhục nhãn trở thành Tuệ nhãn. Dĩ nhiên, điều này phái từ khước.

(4) Hơn nữa, Ngài phải chấp nhận chỉ có hai loại nhãn. Nếu Ngài từ chối, quan điểm của Ngài sẽ không hữu lý. Nếu Ngài đồng ý, có phải Ðức Thế Tôn đã từng tuyên bố về ba loại Nhãn - Nhục nhãn, Thiên nhãn và Tuệ nhãn "Này Chư Tỷ kheo, có ba loại nhãn - Thế nào là ba? - Nhục nhãn, Thiên nhãn và Tuệ nhãn.

"Với Nhục nhãn, Thiên nhãn,
Tuệ nhãn là sự thấy cao thượng.
Trong ba loại Nhãn này,
Tuệ nhãn là sự thấy của bậc tối thượng
Khởi điểm của Nhục nhãn,
Với phương tiện của Thiên nhãn,
Làm thế nào trực giác sanh khởi:
Với sự xuyên suốt của Tuệ nhãn
Người nào đến với Tuệ nhãn như vầy.
Sẽ được giải thoát khỏi sầu bi".

7. Of the 'Celestial Eye'

Controverted Point.—That the fleshly eye, when it is the medium of an idea, becomes the celestial eye.
From the Commentary.—This is a view held by the Andhakas and Sammitiyas.

[1] Th.—If you affirm this, you must also say that the fleshly eye is the celestial eye, and conversely, that the two are like in kind, are, in fact, identical, the one having the same range, power, and field as the other. This you deny.

[2] Again, if you make the two thus on a par, you are affirming that something grasped at [as effect by previous karma] becomes something not so grasped at, that experience in the universe of sense is experience in the universe of 'Rupa', that experience, analogously reasoning, in the universe of Rupa is experience in the universe of the remoter heavens, that the things included in these universes are of 'the Un-included ' —which is absurd.

[3] Further, you are, by your proposition, also admitting that the celestial eye, when it is the medium of a sensuous idea [in Jhana], becomes the fleshly eye. And, again, that, when it is the medium of a [spiritual] idea, it then becomes the eye of understanding—which you must deny.

[4] Further, you are also admitting that there are only two kinds of vision (or 4 eye '). If you deny, your proposition falls. If you assent, I would ask whether the Exalted One did not speak of three kinds of vision—the fleshly, the celestial, and the eye of understanding, thus: ' Three, bhikkhus, are the modes of sight—which are they? The fleshly eye, the celestial eye, the eye of understanding?

' The eye of flesh, the heavenly eye,
And insight's eye, vision supreme :—
These are the eyes, the visions three
Revealed by the man supreme.
The genesis of fleshly eye,
The way of eye celestial,
How intuition took its rise :—
The eye of insight unsurpassed.
Whoso doth come that eye to know,
Is from all ill and sorrow freed. '


2. Cakkhusuttaṃ
61. Vuttañhetaṃ bhagavatā, vuttamarahatāti me sutaṃ –

‘‘Tīṇimāni, bhikkhave, cakkhūni.
Katamāni tīṇi? Maṃsacakkhu, dibbacakkhu, paññācakkhu
– imāni kho, bhikkhave, tīṇi cakkhūnī’’ti.
Etamatthaṃ bhagavā avoca. Tatthetaṃ iti vuccati –

‘‘Maṃsacakkhu, dibbacakkhu, paññācakkhu anuttaraṃ;
Etāni tīṇi cakkhūni, akkhāsi purisuttamo.
‘‘Maṃsacakkhussa uppādo, maggo dibbassa cakkhuno;
Yato ñāṇaṃ udapādi, paññācakkhu anuttaraṃ;
Yassa cakkhussa paṭilābhā, sabbadukkhā pamuccatī’’ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.

Khuddakanikāya - Itivuttaka - Tikanipāto


Ðiều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba con mắt này.
Thế nào là ba? Mắt thịt, mắt Chư Thiên và mắt Trí Tuệ.
Này các Tỷ-kheo có ba loại mắt này.
Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói đến.

Mắt thịt, mắt chư Thiên, Vô thượng mắt trí tuệ,
Có ba loại mắt ấy, bậc Vô thượng nhân đã tuyên bố trình bày,
Sanh khởi của mắt thịt, Con đường mắt chư Thiên,
Từ đấy, trí khởi lên, Tuệ nhãn là tối thượng,
Ai chứng được mắt ấy, Giải thoát mọi đau khổ.
Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

Kinh Tiểu Bộ - Phật Thuyết Như Vậy CIII (Tik. II, 2) (It. 52)

↑ trở lên


A Tỳ Đàm - Lớp Zoom với Trung

© www.tudieu.de